【#1】Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế

Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình.

Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?

【#2】Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)

Vua Gia Long là người quyết định chủ yếu kiến trúc kinh thành Huế, trong đó ông rất đề cao vấn đề phong thủy. Sau khi lên ngôi, ông đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế với đề án di dời 8 ngôi làng để lấy mặt bằng thực hiện…

Đáp ứng lòng người trước khi định đô

Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

Ngọ môn Huế

Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình. Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

Sơ đồ kinh thành Huế

Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

Bờ thành kinh thành Huế

Dãy súng đại bác trước Ngọ môn

Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?

【#3】Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế

Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Chính vua Gia Long đã đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế.

Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

– 1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

– 2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

– 3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

– 4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

Vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương

Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành). Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

Phong thủy của Thủy đạo – “hệ xương nước” điều hòa phong thủy cho Kinh thành Huế

Trong cảnh quan thì yếu tố Thủy (mặt nước sông, hồ, ao) và Thủy đạo (mạng lưới đường thủy gồm các sông, hồ, ao nối với nhau) là thành tố không thể thiếu trong bố cục cảnh quan ở các khu di tích Huế. Ngoài ý nghĩa về mặt triết lý phong thuỷ thì nó còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nước, cải tạo đất đai, điều hoà môi trường sinh thái xung quanh… được xem như “hệ xương nước” ở Kinh thành Huế.

Đến Huế hiện nay, khi đi dạo quanh ở bờ bắc sông Hương nơi tập trung phần lớn hệ thống kiến trúc của di tích Huế thì sự hiện hữu nhiều các sông, ao, hồ – là dấu tích của vua để lại nhằm điều hòa khí hậu cho một vùng. Những thế hệ sau này tại cố đô lớn lên đều cảm nhận được điều đó, khi bờ bắc rất xanh mát và dễ chịu bởi hệ thống Thủy đạo cực kỳ quý giá này.

Hiện nay, cùng với đà phát triển của đô thị, sự lấn chiếm, san lấp trái phép của người dân đã làm cho diện tích các ao hồ di tích Huế bị giảm thiểu một cách nghiêm trọng, nhiều đoạn lòng hào bị san lấp nghiêm trọng, bờ hào bị người dân lán chiếm làm nhà ở.

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, trong khu vực Kinh thành có hơn 50 hồ nay đã bị lấp mất gần 1/5, số còn lại (trừ hồ trong khu vực Hoàng Thành) đang bị lấn chiếm, hoặc trở thành nơi xả rác, chất thải của người dân. Các loại động thực vật thuỷ sinh đặc trưng cho hệ thống ao hồ này gần như không còn hoặc còn rất ít, diện tích mặt nước hoang phế, cây cỏ dại, rong bèo mọc tràn lan gây mất mỹ quan cho khu vực. Nguồn nước đều trong trạng thái ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường môi sinh của khu vực.

Nguồn: Đại Dương (Dân Trí) – Tạp chí Duyên dáng Việt Nam – Lý học đông Phương – Admin chúng tôi

Với tài liệu tham khảo này, City Tour Đà Nẵng hy vọng các bạn hướng dẫn viên sẽ lưu lại cho mình những kiến thức nền tảng tốt nhất để hành nghề, giúp du khách hiểu hơn văn hóa lịch sử quê hương mình. Thân mến!

【#4】Phong Thủy Trong Kiến Trúc Kinh Thành Huế

Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.

Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế

Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo quay mặt hơi chếch về hướng Ðông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Ðây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy

Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

Năm lối đi vào Ngọ Môn tựơng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử. Một trăm cột là tổng của các con số Hà Ðồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Ðại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.

Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều đựơc đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự.

Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

【#5】Kiến Trúc Kinh Thành Huế Và Những Điều Thú Vị Về Địa Thế Phong Thủy

Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.

Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng.

Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế

Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo, quay mặt hơi chếch về hướng Đông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Đây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy.

Mặt khác, để tạo phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

Năm lối đi vào Ngọ Môn tượng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử.

Một trăm cột là tổng của các con số Hà Đồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Đại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.

Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều được đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự (chín con rồng trong Long sinh cửu phẩm ).

Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

Nguồn: Phong Thuy – Thế Giới Phong Thuy

Bài Đăng Liên Quan

Tags: phong thủy cố đô huế, phong thủy cung đình, phong thủy học, phong thủy huế, phong thủy kinh thành huế, phong thủy kinh đô huế, phong thủy phong kiến, phong thủy quốc gia, phong thủy tạp luận, phong thủy thành phố huế, phong thủy thừa thiên huế, phong thủy triều đình, phong thủy đất huế, phong thủy địa thế, địa thế phong thủy huế

Phong Thuy – Phong Thuy Hoc

【#6】Phong Thủy Chọn Màu Cho Xe Ô Tô Honda Theo Tuổi

Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tồn tại theo quy luật tương sinh và tương khắc. Quy luật của Ngũ hành hoàn toàn phù hợp với quy luật của tự nhiên, vì vậy từ khi được biết đến, Ngũ hành luôn thể hiện một sự chính xác cho những người tin vào. Mỗi người sinh ra đều có mệnh của mình theo quy luật xoay vòng của Ngũ hành 2 năm 1 lần, qua đó ứng với quy luật tương sinh tương khắc với mệnh khác.

Trong ngũ hành, tương sinh là vòng tròn phía ngoài, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy và Thủy sinh Mộc. Ứng với tự nhiên là cây khô dễ cháy sinh lửa, lửa đốt mọi vật ra tro, thành đất, đất tạo nên quặng trở thành kim loại, kim loại nung nóng chảy thành dạng lỏng như nước, nước nuôi cây lớn. Vòng tròn tương sinh cũng ứng với sự hỗ trợ, làm tốt lên, tạo sự may mắn, yên ổn.

Tương khắc là những đường bên trong vòng tròn tương sinh, tạo thành hình ngôi sao 5 cánh. Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ và Thổ khắc Thủy. Ứng với tự nhiên là nước dập tắt lửa, lửa làm chảy kim loại, kim loại cắt được cây, cây hút chất màu của đất, đất ngăn nước chảy. Tương khắc ngược lại với tương sinh, tức là có thể sẽ gây là những điều không tốt, đối lập.

Bảng màu cũng có sự chuyển động tương ứng như ngũ hành, và bảng màu cũng rất phù hợp với quy luật của tự nhiên.

Theo đó, Mộc ứng với màu xanh lá cây; Hỏa ứng với màu đỏ, hồng, da cam; Thổ ứng với màu nâu, vàng đậm; Kim ứng với màu vàng sáng, bạc, trắng; Thủy ứng với màu xanh nước biển, đen, tím.

Chọn màu xe ô tô theo ngũ hành

Theo ngũ hành tương sinh tương khắc, có nghĩa là việc chọn màu cũng nên chọn theo quy luật tương sinh tương khắc với chủ nhân.

Chọn màu tương sinh với mệnh sẽ khiến bạn cảm thấy tự tin, may mắn, thoải mái thanh thản. Bản thân màu tương sinh cũng khiến bạn cảm thấy rất phù hợp.

Chọn màu mà mệnh của bạn tương sinh cũng hợp lý, khiến chiếc xe bền hơn và hợp với chủ nhân.

Bạn có thể chọn màu cùng mệnh, nhưng đừng quá lạm dụng. Màu cũng mệnh sẽ khiến bạn yên ổn và an toàn nhưng nếu nhiều màu cùng mệnh quá sẽ sinh ra dư thừa, phản tác dụng.

Cần tránh những màu tương khắc với mệnh của bạn. Những màu tương khắc sẽ khiến sức khỏe của bạn bị ảnh hưởng, tâm trí bất định, mất tập trung, hay bực bội nóng giận, dễ gặp tai nạn hơn nếu lái xe, có thể bị thương tật.

Bạn cũng không nên lạm dụng những màu mà mệnh của bạn khắc, hay còn gọi là khắc xuất. Những màu ấy tuy không ảnh hưởng đến bạn nhưng sẽ khiến chiếc xe của bạn không ổn định, hay hỏng hóc khó sửa chữa và khó giữ chiếc xe lâu dài.

Kinh nghiệm chon màu xe honda

Người mệnh Hỏa nên chọn xe ô tô màu xanh lá cây. Có thể chọn xe màu da cam, đỏ, hồng cùng mệnh. Nếu bạn cảm thấy một chiếc xe màu xanh lá cây đôi khi quá nổi bật và không phù hơp, hãy chọn các màu như nâu, vàng đậm, trắng, bạc, vàng sáng. Cần tránh xe màu xanh nước biển, đen. Người mệnh hỏa sinh các năm 1934, 1935, 1948, 1949, 1956, 1957, 1964, 1965, 1978, 1979, 1986, 1987, 1994, 1995.

Xanh lá cây rất hợp với người mệnh Hỏa.

Người mệnh Thổ nên chọn xe màu đỏ, da cam, hồng. Có thể chọn màu nâu, vàng đậm, vàng nhạt, bạc, trắng. Nên tránh màu xanh lá cây và nhớ đừng lạm dụng màu xanh da trời, đen. Người mệnh thổ sinh các năm 1938, 1939, 1946, 1947, 1960, 1961, 1968, 1969, 1976, 1977, 1990, 1991, 1998, 1999.

Màu đỏ hợp với người mệnh Thổ.

Người mệnh Kim nên chọn xe màu nâu, vàng đậm. Bạn cũng có thể mua xe màu trắng, vàng nhạt, xanh nước biển. Cần cân nhắc khi mua xe màu xanh lá cây và thận trọng với màu đỏ, da cam, hồng. Người mệnh Kim sinh các năm 1932, 1933, 1940, 1941, 1954, 1955, 1962, 1963, 1970, 1971, 1984, 1985, 1992, 1993, 2000, 2001.

Màu nâu lại phù hợp với người mệnh Kim.

Người mệnh Thủy nên chọn xe màu trắng, vàng nhạt. Có thể sử dụng màu cùng mệnh như xanh nước biển, đen hay màu xanh lá cây. Bạn cần tránh những màu như nâu, vàng sẫm. Màu đỏ, da cam là màu khắc xuất cũng nên thận trọng khi lựa chọn. Người mệnh Thủy sinh các năm 1936, 1937, 1944, 1945, 1952, 1953, 1966, 1967, 1974, 1975, 1982, 1983, 1996, 1997.

Người mệnh Mộc nên sử dụng xe có màu xanh nước biển, đen, tím. Có thể sử dụng màu xanh lá cây, nâu, đỏ, hồng, da cam và cần tránh các màu kim như bạc, trắng, vàng ánh kim. Người mệnh Mộc sinh các năm 1942, 1943, 1950, 1951, 1958, 1959, 1972, 1973, 1980, 1981, 1988, 1989, 2002, 2003.

Và người mệnh Mộc hợp với xe màu xanh nước biển, đen.

Nhìn chung, nên rất trận trọng khi sử dụng các màu tương khắc với mệnh của bạn để có thể an tâm khi sử dụng xe. Dù sao, quan trọng hơn vẫn là việc tập trung khi lái xe, không sử dụng rượu bia và lái xe đúng luật, còn nếu không thì dù có sử dụng xe có màu phù hợp đến mấy bạn cũng phải nhận những hậu quả đáng tiếc.

Xem Thêm: Kinh nghiệm lái xe ô tô qua đường ngập nước Tại Đây

Chọn Màu Xe Honda CRV Theo Tuổi Tại Đây

Chọn Màu Xe Honda CITY Theo Tuổi Tại Đây

Chọn Màu Xe Honda CIVIC Theo Tuổi Tại Đây

Chọn Màu Xe Honda JAZZ Theo Tuổi Tại Đây

Chọn Màu Xe Honda ACCORD Theo Tuổi Tại Đây

Chọn Màu Xe Honda ODYSSEY Theo Tuổi Tại Đây

LH 0989588516 để được tư vấn và biết thêm chi tiết

【#7】Vua Gia Long Và Kiến Trúc Kinh Thành Huế

Kinh Thành Huế do vua gia long đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt về cuộc đất thuận tiện để xây dựng chính là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với học thuyết phong thuy âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng với những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây kiểu Vauban.

Vua Gia Long và kiến trúc kinh thành Huế

Trong cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc rất uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy chính là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính đó là:

Kinh Đô xưa do Vua Gia Long dựng đều hướng về phía Nam

Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

Vua Gia Long đặt kinh thành dựa trên thuyết ngũ hành

Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. VUA GIA LONG đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành, sinh khắc trong tu vi chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

Kinh thành được Vua Gia Long bố trí đúng nguyên tắc

Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ, phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè, ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng, phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

Vua Gia Long chọn kinh thành tại vùng đất có nước phủ bốn bề

Kinh thành Huế được Vua Gia Long xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

Vua Gia Long vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương

Nói rõ hơn: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách “Địa đạo diễn ca” của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

Kinh thành được Vua Gia Long chuẩn bị rất kỹ lưỡng

Vua Gia Long cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”.

【#8】Đánh Giá Tầm Quan Trọng Của Phong Thủy Dương Trạch Và Phong Thủy Âm Trạch

Phong thủy âm trạch và phong thủy dương trạch

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Âm trạch và Dương trạch là hai khái niệm quan trọng trong phong thủy địa lý.

Âm trạch chỉ nơi an táng cho người đã khuất, nó là mộ phần, lăng tẩm.

Lăng vua Tự Đức triều Nguyễn

Dương trạch chỉ những nơi nơi ở bao gồm nhà ở, biệt thự, các công trình kiến trúc phục vụ con người như chợ, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học, văn phòng, kho tàng…

Tầm quan trọng của phong thủy âm trạch

So với hai khái niệm trên thì chắc chắn chúng ta sẽ thấy được âm trạch mang phạm trù nhỏ hẹp, chỉ đơn thuần là nơi an táng người quá cố, còn dương trạch mắng một phạm vi rất rộng. Không chỉ có vậy, những minh chứng tôi sắp dẫn ra đây sẽ khẳng định được tầm quan trọng của Âm trạch.

Người ta quan niệm mộ phần của tổ tiên, người đã khuất có ảnh hưởng đến cuộc sống của con cháu, hay những người còn sống. Người ta cho rằng họ nhà nào mà làm ăn phát đạt, công danh hiển hách ấy là do âm phần phúc đức được vào thế đắc địa, kết phát. Có câu: “Mả táng hàm rồng”.

Những ngôi mộ kết phát thường có đặc điểm là nơi sinh khí hội tụ, đúng long mạch…Tuy nhiên, những ngôi mộ đang kết mà bị đào bới, phá hủy, rung động thì sẽ khiến cả họ suy tàn lụi bại, tai họa liên miên…Bí mật của vấn đề nằm ở đâu, thực sự đến nay cũng chưa ai làm sáng tỏ được cả. Nếu như mộ phát mà hủy hoại dẫn đến những tai họa như trên thì chúng ta có thể lật lại những vấn đề trong lịch sử. Ngày trước thời kỳ quân Mông – Nguyên xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Trần, quân dân Đại Việt đánh tan ba cuộc xâm lăng của quân địch. Trong những lần giao tranh với quân địch, do lực lượng quân ta ít hơn, vũ khí trang bị và mức độ tinh nhuệ không bằng được những tên xâm lược hung hãn và chuyên nghiệp đó quân ta đã phải sử dụng chính sách dùng đoản binh để chế trường trận, áp dụng sách lược quân sự thanh dã, phát động chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân. Một điều tệ hại xẩy ra đó chính là khi không bắt được vua Trần cùng đội ngũ lãnh đạo cuộc kháng chiến, giặc Mông – Nguyên dùng cả thủ đoạn hèn hạ đó là đào mộ tổ tiên họ Trần. Đến khi cuộc kháng chiến giành được thắng lợi Vua Nhân Tông mới cùng các đại thần, bá quan văn võ quay trở lại sửa sang lại mộ phần cho tổ tiên. Nhìn thấy cảnh tượng hai con ngựa đá trong khu lăng mộ lấm lem bùn đất, vua mới xúc động làm thơ như sau:

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Giang sơn nghìn thuở âu vững vàng

Nghĩa là trải qua hai cuộc đối đầu với kẻ thù xâm lược hung bạo đến ngựa đá trong lăng cũng không được yên ổn, phải mệt nhọc vất vả, tuy nhiên đất nước vẫn yên ổn và cường thịnh đến mãi nghìn năm. Nếu như ngôi mộ kết phát mà khi bị động mộ có thể gây ra tai họa, thì việc đào mộ, phá mộ kia sẽ rất nghiêm trọng đối với gia tộc họ Trần và đất nước Đại Việt, tuy nhiên bằng sức mạnh quân sự và tinh thần đoàn kết, bằng hào khí Đông A lẫy lừng, oanh liệt, đất nước ta thắng ngoại xâm một cách vẻ vang và cường thịnh, phồn vinh. Ấy là một thời.

Đến thời nhà Hồ, nước ta bị quân Minh xâm lược và đô hộ trong suốt 10 năm, tội ác man rợ của quân thù được nhà thơ Nguyễn Trãi miêu tả rất cụ thể trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo, hay chúng ta có thể tìm thấy chứng cứ của nó qua các tác phẩm lịch sử còn mãi với thời gian. Vua Lê Thái Tổ đứng lên dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn – Thanh Hóa quét sạch hung đồ, thu non sông về một mối, đến thời vua Thánh Tông nhà Lê, cuộc sống nhân dân ta no ấm phồn vinh chẳng khác nào thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn bên Trung Hoa, hay như một tiên cảnh nơi hạ giới. Có câu ca dao như sau:

Nhớ đời Thái Tổ, Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng trâu chả thèm ăn

Câu ca dao này miêu tả cảnh tượng thái bình, no ấm, giàu có, vinh quang của xã hội nước ta thời đó. Tuy nhiên, để có được cuộc sống đó vua Thái Tổ cùng những tráng sỹ yêu nước đã phải kiên cường chiến đấu trong suốt 10 năm, biết bao xương máu đã đổ xuống tô thắm cho non sông gấm vóc, cho cuộc sống ấm no. Trong lúc giao tranh đó, tướng tá đô hộ nhà Minh đã tìm mọi cách ép buộc vua ra đầu hàng và lần này dĩ nhiên lại là trò mưu hèn kế bẩn đào mộ giống như quân Nguyên đối với vua Trần. Đặc biệt hơn nữa, theo các truyền thuyết về sự phát tích của dòng họ vua Lê, thì vua Thái Tổ được một nhà sư chỉ đất táng mộ tiền nhân ở động Chiêu Nghi, ngôi mộ đang kết phát mà bị hủy hoại mạch như như vậy đáng lý ra có thể gây tai họa cho cả dòng tộc, và đương nhiên linh hồn cuộc khởi nghĩa bị tiêu diệt thì cuộc khởi nghĩa sẽ đi vào bế tắc và thất bại. “Thế nhưng, trời cũng chiều người hung đồ hết lối” (Câu này trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu). Cuộc khởi nghĩa không hề bị dập tắt mà thay vào đó thành quả nằm gai nếm mật, xương máu căm hờn đã được đền đáp xứng đáng vào năm 1427 đất nước ta sạch bóng xâm lăng. Kế thừa văn thao võ lược yêu nước thương dân của tổ tiên mình vua Thánh Tông gây dựng nên một đất nước thái bình thịnh trị. Như vậy, sức mạnh của âm trạch lại một lần nữa đặt ra cho chúng ta một nghi vấn lớn. Đó là một thời.

Đến thế kỷ XVIII, phong trào khởi nghĩa Tây Sơn khiến cả đất nước rung chuyển, Vua Quang Trung bách chiến bách thắng, trong đập tan các tập đoàn phong kiến cát cứ, chia cắt đất nước. Ngoài thì đối đãi rất tử tế với hai người bạn láng giềng là Xiêm La và Mãn Thanh. Tuy nhiên, đằng sau hào quang ngời chói cũng có những vết đen không thể xóa mờ. Vua Quang Trung với biện pháp cứng tay triệt để của người mệnh thân Thất sát đã làm một công việc mà nhiều người cảm thấy vô cùng bức xúc, phẫn nộ. Điều này được ghi chép lại thành chứng cứ tư liệu lịch sử rõ ràng. Trong đó có đoạn như sau: “Nghe những lời đồn đại rằng ở lăng của các tiên chúa, khí tốt ngút ngàn, nghiệp đế tất dấy” (Đây là nói về lăng của các chúa Nguyễn, tổ tiên của vua Gia Long sau này), Quang Trung đã sai quân lính làm một việc vô cùng thâm độc, phi đạo đức đó là phá hủy lăng mộ các chúa Nguyễn, vứt bỏ hài cốt các chúa. Như vậy là mấy đời chúa Nguyễn trị vì Đàng Trong có công lao khai khẩn, mở mang bờ cỡi, phát triển văn hóa, kinh tế của đất nước đều bị quật tung, khiến cho giới sỹ phu và những người có lương tâm, đạo đức đều nghiến răng, tràn lệ. Khí tốt ngút ngàn, nhưng xảy ra một tai họa phá hủy đào bới như vậy, tất sẽ gây ra một tai họa sập trời đối với con cháu Nguyễn Gia, trong đó mầm mống duy nhất ở đây là hoàng đế Gia Long về sau…Thế nhưng, mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, Nguyễn Ánh luôn gặp may mắn thoát nạn trong những khi sinh tử cận kề. Nạn to không chết ắt có phúc lớn. Cơ và thế mỗi thời mỗi khác, Nguyễn Ánh lật ngược tình thế, xoay chuyển càn khôn, tiêu diệt nhà Tây Sơn, lấy lại giang sơn cơ nghiệp của tổ tiên, lại gộp thêm đất Đàng Ngoài của vua Lê, chúa Trịnh, hẳn là một kỳ công, không phải sức người mà làm được. Thêm một điểm nghi vấn thứ ba về âm trạch. Đó cũng là một thời.

Tầm quan trọng của phong thủy dương trạch

Vậy ra mới biết, tầm quan trọng của âm trạch không thể bằng được dương trạch. Bởi lẽ:

  • Âm trạch chỉ đóng góp một phần nào đó mà thôi.
  • Âm trạch đòi hỏi những khu vực sơn kỳ thủy tú, trong khi mật độ dân số ngày càng tăng. Đất đai dùng cho việc cư trú và canh tác ngày càng bị thu hẹp. Những khu vực đẹp về cảnh quan, sơn kỳ thủy tú thường là các vườn quốc gia, khu bảo tồn, hay những vùng du lịch sinh thái, danh lam thắm cảnh, an táng xây dựng mộ phần ở những nơi như vậy ngày 1 ngày 2 sẽ khiến những khu vực này trở thành lịch sử.
  • Âm trạch cũng là vấn đề dễ phát sinh các hành động coi thường luân lý, vô đạo, hủy hoại mộ phần, triệt phá long mạch, trù yếm lẫn nhau, kiện cáo tranh chấp, mà trong khi đó, những việc làm trên đâu nhất định là có tác dụng.
  • Dương trạch hướng tới một môi trường trong lành, có trường khí tốt, mang đầy tính chất biện chứng logic và khoa học nhằm tạo nên một nơi cư trú, làm việc bảo đảm cho sức khỏe, hỗ trợ cải tạo vận thế, cải tạo thế giới vật chất.
  • Dương trạch có tính chất ứng dụng hết sức linh hoạt. Linh hoạt ở chỗ nào những nơi phong thủy nhà ở, phong thủy sân vườn hay mặt tiền không cát lợi thì có thể sử dụng để làm kho tàng, nhà máy, chợ hay những công trình khác.
  • Âm trạch có thể lãng phí diện tích đất đai, phá vỡ một số môi trường cảnh quan tốt đẹp thì phong thủy Dương trạch hướng tới vấn đề bảo vệ môi trường, giữ gìn sự trong lành. Khi mà các tầng khí quyển, thủy quyển, thạch quyển, sinh quyển bị phá vỡ cân bằng, ô nhiễm nguyên trọng, đới cảnh quan bị hủy hoại thì đương nhiên bệnh tật, dịch này dịch kia bùng phát, thiên tai hạn hán sẽ nổ ra, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của con người.
  • Nhà triết học Trang Tử của đất nước Trung Hoa, ông tổ của đạo giáo trước lúc lâm chung, học trò của ông có hỏi về hậu sự của ông ra sao. Trang Tử đáp: “Sau khi ta chết đi sẽ lấy trời đất làm quan quách, lấy nhật nguyệt làm ngọc bích, lấy các vì sao làm châu ngọc, lấy vạn vật làm vật tùy táng, nếu điều ấy mà đến thì nghi thức tang lễ của ta chẳng phải là chuẩn bị đầy đủ nhất rồi sao? Còn nghi thức tang lễ nào tốt hơn nữa chăng?”. Nói một cách thẳng thừng là quăng xác ta ra bãi hoang là xong. Học trò của ông mới nói: “Chúng con sợ diều quạ nó rỉa xác của thầy“. Trang Tử đáp: “Ở trên thì sợ diều quạ tha rỉa, chôn xuống đất thì cũng làm mồi cho kiến bọ. Cướp cơm của loài này mà cho loài kia, sao lại quá thiên lệch như vậy…“. Rõ ràng, Trang Tử có kiến giải và lăng kính, nhãn quang thông đạt hơn rất nhiều người, con người khi chết cũng trở về với cát bụi, trở về với vũ trụ, trở về với thế giới tự nhiên, thì cũng không cần phải cầu kỳ làm gì. Có lẽ vì thế mà người trở nên vĩ đại, to lớn…

Ngày nay, dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cùng với những bối cảnh kinh tế xã hội và môi trường tự nhiên rất khác so với những thời kỳ trước đây. Vì thế, vấn đề thiết thực nhất vẫn là gia cư và môi trường, việc bảo vệ môi trường trong lành, giảm trừ các chất thải, nguồn gây ô nhiễm trong đất, nước, không khí…là những việc làm thiết yếu, trở thành tâm điểm của học thuật và khoa học.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

【#9】Xem Hướng Phong Thủy Bàn Làm Việc Theo Tuổi Chi Tiết Nhất

Xem hướng phong thủy bàn làm việc theo tuổi chi tiết nhất

Xem hướng phong thủy bàn làm việc theo tuổi sẽ giúp bạn được những hướng ngồi thoải mái tập trung cho công việc, mang đến những may mắn, thuận lợi và tránh được những rủi ro.

Bàn làm việc không những là nơi để bạn giải quyết công việc, đặt các đồ dùng cá nhân mà nó còn có ảnh hưởng đến hiệu suất công việc và sức khỏe của bạn. Hướng phong thủy bàn làm việc hợp với tuổi sẽ mang lại may mắn thịnh vượng cho bạn đồng thời nó còn tạo ra nguồn năng lượng tích cực giúp bạn giải quyết công việc hiệu quả hơn.

Lưu ý trong việc chọn vị trí ngồi theo phong thủy

Đối với vị trí ngồi làm việc thì trong phong thủy người ta chú ý đến 2 vấn đề là hướng ngồi và cách bố trí bàn làm việc. Tùy theo mệnh và tuổi mà người ta sẽ có cách bố trí chỗ ngồi khác nhau. Và trong việc chọn hướng bàn làm việc thì dù là bất kỳ tuổi gì bạn cũng cần chú ý đến những vấn đề sau:

– Vị trí ngồi phải hướng ra cửa chính tuy nhiên không được ngồi đối diện cửa chính. Với cách sắp xếp như vậy sẽ giúp bạn có tinh thần làm việc hăng say, tỉnh táo hơn, không bị lo ra từ đó giúp làm việc hiệu quả hơn. Ngồi đối diện cửa là cấm kỵ trong phong thủy gọi là “phạm môn xung sát” làm tinh thần bạn bị phân tán.

– Vị trí ngồi nên có điểm tựa ở phía sau lưng như tường hay bàn. Như vậy bạn sẽ được nhiều quý nhân giúp đỡ, đồng nghiệp luôn thân thiện và hỗ trợ hết mình cho bạn trong công việc.

– Không được quay lưng ra cửa vì như thế bạn sẽ thiếu đi điểm tựa sẽ làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong kinh doanh và quan hệ với đồng nghiệp. Bên cạnh đó cửa là nơi tiền tài đi vào, nếu bạn quay lưng với cửa nghĩa là bạn đang đẩy tiền tài và may mắn của bạn ra xa hơn.

– Không đặt bàn làm việc ở vị trí trung tâm căn phòng vì cả 4 phía đều thiếu điểm tựa, bạn rất dễ bị cô lập, ảnh hưởng đến tinh thần và khả năng làm việc.

Xem hướng phong thủy bàn làm việc theo tuổi

Thông tin liên hệ:

【#10】Không Phải Ai Cũng Biết: Tại Sao Nhà Vườn Huế Luôn Thuận Theo Quy Luật “dịch Lý” Và “phong Thủy”?

Không gian văn hóa nhà vườn Huế bảo lưu những giá trị văn hóa vật thể và cả phi vật thể từng gia đình. Trải qua bao năm tháng, thời gian vẫn không làm phai mờ vẻ đẹp văn hóa nghệ thuật, kết tinh thành vẻ đẹp văn hóa kiến trúc đặc trưng trên mỗi di tích nhà vườn.

Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, “nhà vườn Huế là sư kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.

Phủ thờ công chúa Ngọc Sơn được xây dựng năm 1921 trên mảnh vườn rộng gần 2.400 m2 tọa lạc vùng đất Gia Hội xưa, có kiến trúc cổng tam quan lạ mắt. Lối vào phủ thờ được mở từ phía sau ngôi nhà uốn lượn giữa hai hàng cau và hàng chè tàu trước mặt đường.

Đó là môi trường thích hợp nhất để bảo tồn thuần phong mỹ tục của dân tộc, trong đó có đạo lý truyền thống gia đình. Nhìn cảnh quan của một nhà vườn Huế, con người có thể nhận ra được tâm hồn và phong cách sống của chủ nhân”.

Kiến trúc nhà vườn Huế được chia làm hai yếu tố “Nhà” và “Vườn”. Hầu hết kiến trúc nhà vườn Huế đều xây dựng theo quy luật “dịch lý” và “phong thủy” gồm: Cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân nhà.

Cổng thông thường được xây bằng gạch, lối vào được trồng những hàng dâm bụt hoặc chè tàu được cắt xén cẩn thận dẫn vào bức bình phong, sau bình phong là bể cạn, hòn non bộ, hồ trồng sen, hoa súng và nuôi cá cảnh…

Khác với ngôi nhà truyền thống, phủ thờ có tổ hợp kiến trúc lạ mắt với bể cạn trồng hoa súng và tiền án hòn non bộ được tạo tác từ những khối đá với mô hình thu nhỏ đình, tạ, cầu, tháp kỳ thú.

Hồ sen rộng phía trước phủ thờ ví như minh đường khiến du khách ghé qua đây cảm nhận được không khí trong lành, thanh tịnh bên cạnh những loại thảo mộc bon sai, tiểu cảnh, chậu hoa đầy hương sắc.

Trong khu nhà vườn, không thể thiếu ngôi nhà rường. Nhà rường thường được làm bằng gỗ, cầu kỳ hóa bằng nhiều nét hoa văn chạm trổ, có kết cấu kỹ thuật mộng tinh xảo.

Nhà rường có nhiều dạng: một gian hai chai, ba gian hai chái, năm gian hai chái, nhà rường lầu,…Trong nhà bày sập gụ, tủ chè, treo hoành phi, câu đối, đồ đạc được bài trí hợp lý tạo thần thái riêng biệt.

Không gian đẹp nhà vườn Huế tọa lạc tại phường Kim Long, Gia Hội, Phú Hiệp Vỹ Dạ, Phú Mộng, Phường Đúc, An Cựu, Bao Vinh, Nguyệt Biều…Trong đó, sản phẩm du lịch nhà vườn như nhà vườn An Hiên ở Kim Long, nhà vườn Phủ thờ Công chúa Ngọc Sơn, nhà vườn phủ Vĩnh Quốc Công, nhà vườn Thường Lạc, nhà vườn Gia Hưng Vương,.. đang là thế mạnh của du lịch Huế.

Nội thất phủ thờ Ngọc Sơn bố trí trong nhà rường 3 gian hai chái theo nguyên tắc “tiền Phật hậu linh” với hoành phi, câu đối …đặc sắc. Đây là một trong những ngôi nhà vườn được đưa vào đề án bảo tồn loại 1.

Ngôi nhà rường chất liệu quan trọng nhất là gỗ có cột, kèo, xuyên, trến, xà, đòn tay, rui, phần giữa có rầm thượng, phía trên lợp ngói liệt trông rất chắc chắn giúp mát mẻ trong mùa hè, ấm áp trong mùa đông.

Nhà vườn An Lạc Viên, ngôi nhà đặc trưng vùng Phú Mộng- Kim Long được xây dựng năm 1888. Gia chủ ngôi nhà này trước kia là vị quan nhỏ thời vua Thành Thái.

Bên ngoài nhà, xây dựng hai bể cạn xi măng đựng nước đặt hai bên nhà bên trên có hòn giả sơn tượng trưng cho “sơn”, thủy” làm tăng vẻ đẹp ngôi nhà và đề phòng khi lửa cháy. Theo gia chủ Võ Văn Long, đây là loại gốm sứ làm từ thời nhà Thanh bên Trung Quốc.

Nhà vườn An Hiên (thôn Xuân Hòa, Hương Long) hướng ra dòng Hương thơ mộng được hình thành từ cuối thế kỷ 19, đánh giá là nhà vườn đẹp nhất đất Thần Kinh. Nhà vườn An Hiên là kiến trúc mẫu mực, tiêu biểu cho nhà vườn xứ Huế.

“Tiền án” bình phong trước nhà có kiến trúc thanh thoát, nhẹ nhàng, ở giữa có chữ “thọ” và hai bên có chữ “song hỉ”.

Ngôi nhà lưu giữ những kỷ vật quý cung đình triều Nguyễn hoành phi, câu đối, thơ văn. Đặc biệt, bức hoành phi đề 4 chữ “Văn Võ Trung Hiếu”do vua Bảo Đại ban cho gia chủ năm 1937.

Với tổng diện tích gần 5.000 m2, xung quanh ngôi nhà được trồng hơn 50 loài hoa và cây ăn quả xum xuê từ ba miền đất nước như măng cụt, hồng, sầu riêng, bưởi, mít, vả… Người Pháp từng ví nơi đây như thiên đường thu nhỏ giữa lòng Huế.