Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Dùng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Vượng Tài Vượng Vận
  • Dùng La Bàn Phong Thủy Thế Nào Cho Chính Xác?
  • Phong Thủy Lạc Việt Khác Với Phong Thủy Truyền Thống Ở Điểm Nào?
  • 8 Mẹo Phong Thủy Nhà Ở Hút Tiền Tài Luôn Được Nhà Giàu Áp Dụng
  • Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

    Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình.

    Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

    1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

    2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

    3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

    4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

    Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

    Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

    Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

    Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)
  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Xem Hướng Nhà Hợp Tuổi Theo Phong Thủy 1979 Kỷ Mùi
  • Cẩm Nang Phong Thủy Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Tỳ Hưu ( Kỳ Hưu ) Có Tác Dụng Gì Trong Phong Thủy ???
  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Hướng Dẫn Cách Dùng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Vượng Tài Vượng Vận
  • Dùng La Bàn Phong Thủy Thế Nào Cho Chính Xác?
  • Phong Thủy Lạc Việt Khác Với Phong Thủy Truyền Thống Ở Điểm Nào?
  • Vua Gia Long là người quyết định chủ yếu kiến trúc kinh thành Huế, trong đó ông rất đề cao vấn đề phong thủy. Sau khi lên ngôi, ông đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế với đề án di dời 8 ngôi làng để lấy mặt bằng thực hiện…

    Đáp ứng lòng người trước khi định đô

    Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

    Ngọ môn Huế

    Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình. Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

    Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

    Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

    Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

    Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

    Sơ đồ kinh thành Huế

    Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

    Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

    Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

    Bờ thành kinh thành Huế

    Dãy súng đại bác trước Ngọ môn

    Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Xem Hướng Nhà Hợp Tuổi Theo Phong Thủy 1979 Kỷ Mùi
  • Cẩm Nang Phong Thủy Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Tỳ Hưu ( Kỳ Hưu ) Có Tác Dụng Gì Trong Phong Thủy ???
  • Phong Thủy Kê Bàn Làm Việc Và Những Lưu Ý Quan Trọng
  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)
  • Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Hướng Dẫn Cách Dùng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Vượng Tài Vượng Vận
  • Dùng La Bàn Phong Thủy Thế Nào Cho Chính Xác?
  • Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Chính vua Gia Long đã đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế.

    Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

    Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

    – 1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

    – 2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

    – 3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

    – 4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

    Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

    Vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương

    Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

    Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành). Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

    Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

    Phong thủy của Thủy đạo – “hệ xương nước” điều hòa phong thủy cho Kinh thành Huế

    Trong cảnh quan thì yếu tố Thủy (mặt nước sông, hồ, ao) và Thủy đạo (mạng lưới đường thủy gồm các sông, hồ, ao nối với nhau) là thành tố không thể thiếu trong bố cục cảnh quan ở các khu di tích Huế. Ngoài ý nghĩa về mặt triết lý phong thuỷ thì nó còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nước, cải tạo đất đai, điều hoà môi trường sinh thái xung quanh… được xem như “hệ xương nước” ở Kinh thành Huế.

    Đến Huế hiện nay, khi đi dạo quanh ở bờ bắc sông Hương nơi tập trung phần lớn hệ thống kiến trúc của di tích Huế thì sự hiện hữu nhiều các sông, ao, hồ – là dấu tích của vua để lại nhằm điều hòa khí hậu cho một vùng. Những thế hệ sau này tại cố đô lớn lên đều cảm nhận được điều đó, khi bờ bắc rất xanh mát và dễ chịu bởi hệ thống Thủy đạo cực kỳ quý giá này.

    Hiện nay, cùng với đà phát triển của đô thị, sự lấn chiếm, san lấp trái phép của người dân đã làm cho diện tích các ao hồ di tích Huế bị giảm thiểu một cách nghiêm trọng, nhiều đoạn lòng hào bị san lấp nghiêm trọng, bờ hào bị người dân lán chiếm làm nhà ở.

    Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, trong khu vực Kinh thành có hơn 50 hồ nay đã bị lấp mất gần 1/5, số còn lại (trừ hồ trong khu vực Hoàng Thành) đang bị lấn chiếm, hoặc trở thành nơi xả rác, chất thải của người dân. Các loại động thực vật thuỷ sinh đặc trưng cho hệ thống ao hồ này gần như không còn hoặc còn rất ít, diện tích mặt nước hoang phế, cây cỏ dại, rong bèo mọc tràn lan gây mất mỹ quan cho khu vực. Nguồn nước đều trong trạng thái ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường môi sinh của khu vực.

    Nguồn: Đại Dương (Dân Trí) – Tạp chí Duyên dáng Việt Nam – Lý học đông Phương – Admin chúng tôi

    Với tài liệu tham khảo này, City Tour Đà Nẵng hy vọng các bạn hướng dẫn viên sẽ lưu lại cho mình những kiến thức nền tảng tốt nhất để hành nghề, giúp du khách hiểu hơn văn hóa lịch sử quê hương mình. Thân mến!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xem Hướng Nhà Hợp Tuổi Theo Phong Thủy 1979 Kỷ Mùi
  • Cẩm Nang Phong Thủy Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Tỳ Hưu ( Kỳ Hưu ) Có Tác Dụng Gì Trong Phong Thủy ???
  • Phong Thủy Kê Bàn Làm Việc Và Những Lưu Ý Quan Trọng
  • Bí Mật Phong Thủy Của Két Sắt Đựng Tiền
  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Trúc Phong Thủy Cố Đô Huế
  • Những Lỗi Thiết Kế Nhà Phạm Phong Thủy Cần Tránh
  • Điều Bí Ấn Trong Thiết Kế ‘sân Vườn Trung Quốc’ Theo Thuật Phong Thủy Dân Gian.
  • Mua Sách Phong Thủy Ứng Dụng Trong Kiến Trúc Hiện Đại Giảm Giá
  • Vật Phẩm Hoá Sát Phong Thuỷ
  • Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay.

    Trong các di sản còn lại của thời phong kiến thì kinh thành Huế là còn nguyên vẹn và tiêu biểu nhất. Kiến trúc của kinh thành chính là thể hiện tầm vóc và sinh khí của cả dân tộc.

    Duyệt Thị Đường: Nhã nhạc cung đình, giải trí để di dưỡng tinh thần cao thượng

    Giải trí là một phần rất quan trọng trong đời sống con người, để giảm bớt áp lực công việc và nghỉ ngơi thư giãn. Đối với Hoàng đế chuyện đó cũng không ngoại lệ. Thế nên nhà hát hoàng gia lớn nhất đã được thi công ngay trong Cấm Thành vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826). Nhà hát mang tên Duyệt Thị Đường nghĩa là “Nơi để xem xét điều phải trái”, là nơi biểu diễn các vở tuồng cho vua, hoàng gia và các quan khách.

    Nhà hát hình chữ nhật, rộng rãi với bộ mái có bờ quyết cong giống như những đình chùa ở Huế, được chống đỡ bởi hai hàng cột lim sơn son có chiều cao 12m, vẽ rồng ẩn mây cuốn xung quanh và được chia làm 2 tầng. Ở lưng chừng mỗi cột treo thêm một bức tranh sơn thuỷ vẽ cảnh Huế với khung chạm rồng nổi thiếp vàng. Trên cao hơn, Mặt Trời, Mặt Trăng, tinh tú tượng trưng cho vũ trụ được vẽ hoặc chạm nổi lên trần nhà màu xanh lơ. Tòa nhà nối liền với các cung điện của nhà vua và các bà hoàng bằng một dãy hành lang có mái khúc khuỷu, quanh co.

    Vì là để biểu diễn cho vua xem nên nội dung các vở tuồng cũng như âm nhạc đều có yêu cầu rất cao về nghệ thuật cũng như ý nghĩa với mục đích là giải trí phải giúp tu dưỡng tinh thần nhà vua, không phải để phóng túng tâm tham dật và ham hưởng lạc. Ngay cả cái tên Duyệt Thị Đường cũng đã thể hiện rất rõ điều này.

    Những năm 1820 – 1840, vua Minh Mạng cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt Thị Đường (1824-1826), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một Đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh bình từ đường. Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc.

    Thế Miếu, Cửu Đỉnh, Hiển Lâm Các: Kế thừa ý chí tiên vương

    Từ Diên Thọ cung đi về phía Tây Nam của Tử Cấm Thành là đến quần thể thờ cúng của vua gồm có Thế Tổ Miếu, Cửu Đỉnh và Hiển Lâm Các. Đây là những công trình quan trọng bậc nhất trong Hoàng thành Huế.

    Sự quan trọng này khởi nguồn từ yếu tố tâm linh truyền thống và phong thủy của tòa kinh thành. Như đã nói, để hoàn thành đế nghiệp cho dòng họ, các chúa Nguyễn bỏ ra hơn 200 năm gây dựng âm đức, tụ linh sinh long mạch và khởi công dựng kinh đô. Việc tích âm đức quan trọng nhất, chính là được truyền thừa từ đời này qua đời khác. Một trong những hình thức đó chính là thờ cúng tổ tiên và xây dựng nơi yên nghỉ của tiền nhân.

    Ngoài ra, mộ phần và sự thờ cúng tổ tiên trong Bát Tự lý số lại đóng vai trò là Thiên Tài (chủ về tài chính, tài lộc) của chủ mệnh Hoàng đế. Nếu mộ phần được chăm sóc thờ cúng tốt thì Hoàng đế sẽ luôn vượng tài. Ngoài ra, Tài mà mạnh sẽ sinh xuất bản mệnh vua, khiến cho nó bớt mạnh mẽ, trở nên nhu hòa hơn, cũng chính là lý trí và không cực đoan. Điều này rất cần thiết bởi vốn dĩ đế vương bản mệnh ai cũng rất mạnh mẽ, nếu không có thứ để giảm bớt đi thì sẽ rất nguy hiểm cho quốc gia. Điều này cũng có nghĩa là khi vua thực hiện việc thờ cúng thì sẽ kế thừa tinh thần của tiên đế mà không dám phóng túng bản thân làm điều bốc đồng. Đó mới thật sự là phúc khí của quốc gia vậy.

    Hiển Lâm Các là một công trình cao nhất trong hoàng cung, không có bất kỳ công trình nào được phép xây cao hơn nó. Đây chính là nơi trưng bày, thờ cúng các chiến công của các vua đời trước cũng như ghi công các công thần khai quốc. Chiều cao của Hiển Lâm Các (làm bằng 4 cột gỗ cao 13 m) chính là thể hiện sự trọng vọng và ghi nhớ công ơn của quốc gia đối với các minh quân và công thần.

    Trong ý nghĩa phong thủy, Hiển Lâm Các thuộc Giáp Mộc (gỗ to) còn tượng trưng cho các trụ cột của triều đình luôn cao lớn mạnh mẽ để gánh vác quốc gia mãi mãi. Bởi vì Mộc (các quan nhờ Thổ hoàng gia) mà trở nên cao lớn và có giá trị, đồng thời chính là thể hiện ân trạch hoàng gia vĩnh viễn sâu dày. Toàn bộ các cây gỗ ở Hiển Lâm Các sơn màu đỏ, tượng trưng cho trí tuệ của các quan sẽ sinh vượng cho Thổ (hoàng gia) bền vững. Đó là một vòng tuần hoàn trong tự nhiên, cũng chính là đạo quân thần nhắc nhở cho cả vua và quan. Chỉ có tôn trọng đạo quân thần thì quốc gia mới hưng thịnh.

    Cửu Đỉnh đặt trước Hiển Lâm Các, đối diện Thế Miếu mang hàm nghĩa rất sâu xa. Tương truyền rằng, sau khi Hạ Vũ chia thiên hạ thành chín châu (cửu châu) thì lấy đồng của các châu đúc thành chín đỉnh (Cửu Đỉnh), khắc tinh hoa phong cảnh của chín châu vào Cửu Đỉnh, mỗi đỉnh tượng trưng cho một châu, toàn bộ cất giữ tại kinh đô nhà Hạ. Vì thế, Cửu Đỉnh trở thành biểu trưng cho quyền uy của chính quyền phong kiến và sự thống nhất quốc gia. Từ đó có câu nói: “Có được Cửu Đỉnh là có được thiên hạ”.

    Nhà Nguyễn thống nhất Việt Nam với một dải sơn hà rộng lớn chưa từng có dưới thời Minh Mạng. Bởi vậy đây cũng chính là dịp tốt nhất để tái hiện lại tích xưa, vừa có thể nêu lên uy vọng của triều đại đồng thời lưu lại một vật báu truyền quốc cho con cháu. Với ý nghĩa ấy, tháng 10 âm lịch năm 1835, vua Minh Mạng xuống dụ chỉ cho Nội các, sai đúc Cửu Đỉnh riêng cho triều đại của mình, triều Nguyễn. Dụ chỉ như sau:

    “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc”.

    Làm Hoàng đế không dễ

    Trong lịch sử, tiêu chuẩn đặt ra cho một Hoàng đế là rất cao. Những Thiên tử từ tấm bé đã phải tuân theo một nền giáo dục tiêu chuẩn cao nhất của Nho giáo, vốn ước thúc tất cả hành vi. Từ ăn nói, ngủ nghỉ đến đi đứng, nằm ngồi đều phải theo đúng lễ nghi, dưới sự giám thị của những người thầy tài năng và nghiêm khắc nhất.

    Lớn lên một chút thì Hoàng đế được học chữ Hán, Thi Thư, sách Đạo học Thánh hiền, cho đến quân sự chính trị, lịch sử cổ kim. Tất cả nhằm mục đích tạo ra một vị vua tốt nhất có thể dù đó là người có tư chất kém hay tốt như thế nào. Bởi dưới một nền tảng giáo dục như vậy tất sẽ hun đúc ra một vị vua chân chính, phong thái uy nghi, biết khắc chế dục vọng cá nhân và có kiến thức sâu rộng.

    Cứ thử nhìn vào bản chiếu chỉ của các vua nhà Nguyễn còn lưu lại (gọi là châu bản), bạn sẽ phải ngạc nhiên khi thấy từng chữ trong đó đều được viết rất đẹp, đều tăm tắp y như in ra từ máy. Người ta nói nét chữ là nết người, tâm trí của người viết bình thản và vững chắc đến mức nào để có thể viết ra được những dòng chữ đẹp như vậy?

    Mặt khác, các bậc Thiên tử cũng phải gánh chịu một áp lực khổng lồ ngay từ tấm bé, lúc được chọn làm người kế vị. Bởi thế rất nhiều ông vua sau khi lên nắm quyền đã thực sự đã phóng túng và trở thành bạo chúa. Tuy vậy đó không phải là lỗi của nền giáo dục quy chuẩn hoàng gia mà là nhân cách của vị vua đó yếu kém hơn các vị khác mà thôi. Không thể chỉ vì một vài bạo chúa mà phủ nhận công lao suốt mấy nghìn năm của các Hoàng đế và các triều đại phong kiến được.

    Lời kết

    Trải 9 đời dựng nước, với đức dày và ân uy ban bố khắp miền Đàng Trong, dẫu có trải qua chiến loạn Tây Sơn thì ngai vàng cuối cùng vẫn là của nhà Nguyễn vì sự xứng đáng duy nhất của họ. Gia Long lên ngôi đã mở ra thời kỳ trung hưng cho phong kiến Việt Nam sau một thời gian dài nội chiến đen tối. Chưa bao giờ Việt Nam lại toàn vẹn và có lãnh thổ rộng lớn nhường ấy.

    Thời phong kiến đã trôi qua nhiều năm và bụi thời gian đã phủ lên hầu hết những vàng son của quá khứ làm cho hậu nhân đôi khi đánh giá không đúng về những gì ông cha đã từng đạt được. Chỉ với đôi bàn tay, khối óc và một lối sống đạo đức chuẩn mực của Thánh hiền mà các vương triều phong kiến đã dẫn dắt dân tộc tiến bước vững chắc mấy ngàn năm.

    Dẫu có thăng trầm thành bại nhưng các bậc đế vương đã hết sức cố gắng đảm bảo sự lãnh đạo của mình đạt được tiêu chuẩn cao nhất dẫu là với một vị vua có tư chất thấp nhất. Họ đã làm được điều kỳ diệu đó bằng những kiến thức triết học, khoa học phong thủy huyền diệu.

    Cổng thông tin Du lịch Thừa Thiên Huế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn (P.2)
  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Xem Phong Thuỷ Từ Xa
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền, Phongthuyvnn.com
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền
  • Tầm Quan Trọng Của Phong Thủy Trong Kiến Trúc
  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn (P.2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn
  • Kiến Trúc Phong Thủy Cố Đô Huế
  • Những Lỗi Thiết Kế Nhà Phạm Phong Thủy Cần Tránh
  • Điều Bí Ấn Trong Thiết Kế ‘sân Vườn Trung Quốc’ Theo Thuật Phong Thủy Dân Gian.
  • Mua Sách Phong Thủy Ứng Dụng Trong Kiến Trúc Hiện Đại Giảm Giá
  • Cổng nghi môn và ngọ môn, giữa là cầu trung đạo. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Cầu Trung Đạo nằm trên trục Dũng Đạo là trục thiết kế chính của kinh thành Huế. Tất cả các kiến trúc của kinh thành đều đăng đối dựa trên trục này, thể hiện một tư duy trung dung và hài hòa, vốn là điều người xưa luôn vươn đến. Sống trong một kiến trúc hài hòa và hoàn mỹ về phong thủy như vậy, liệu người ta có thể nào sinh ra tư tưởng cực đoan không?

    Đến cuối Cầu Trung Đạo lại có thêm một lời nhắc nhở nữa dành cho vua quan trước khi bước vào điện Thái Hòa. Đó là một nghi môn có gắn 4 chữ lớn nổi ” Trung hòa vị dục ” ở mặt trong. Trung là gốc của thiên hạ, hoà là đạt đạo của thiên hạ, khi đã đạt được “trung hoà” thì trời đất yên ổn, vạn vật sinh sôi. Câu này phù hợp với ý nghĩa của chữ “Thái Hoà” ở quẻ Càn trong Kinh Dịch.

    Ở mặt ngoài nghi môn là dòng chữ “C hính đại quang minh”. Hai câu này chính là tổng kết và nhắc nhở thêm một lần nữa về tầm quan trọng của việc thi hành chính sách chính trị đặt trọng tâm ở chữ Hòa và phải luôn minh bạch, chính trực như ánh Mặt Trời, làm gương cho muôn dân.

    Băng qua sân Đại Triều Nghi là đến điện Thái Hòa, là tòa cung điện đẹp và nguy nga nhất hoàng cung. Đây là nơi đăng quang của Hoàng đế, nơi thiết triều nên cũng là trung tâm của hoàng thành và trung tâm quyền lực của cả quốc gia.

    Bước vào trong nội điện là ngai vàng lấp lánh đặt trên sập ngự với bửu tán che trên đầu vua. Ta có thể dễ dàng thấy hàng trăm bài thơ chữ Hán và các bức tranh đan xen với nhau theo lối Nhất Thi Nhất Họa. Nội dung các bài thơ chính là mang ý nghĩa cát tường, ca ngợi đất nước văn hiến, hùng cường, ca ngợi non sông gấm vóc, ca ngợi triều Nguyễn với công lao to lớn thống nhất giang sơn, mở rộng bờ cõi, ca ngợi triều đại thịnh trị. và mong muốn quân vương trị vì tạo nên hòa bình thịnh thế. Ví dụ:

    Nước ngàn năm văn hiến Cơ đồ muôn dặm xa Từ Hồng Bàng mở cõi Trời nam một sơn hà Điện Thái Hòa. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Tên điện Thái Hòa bắt nguồn từ Quẻ Thuần Càn trong Kinh Dịch. Quẻ này tượng trưng cho Thiên Đạo và cũng ám chỉ nhà vua . Quẻ Càn này có 4 đặc điểm là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh mang ý nghĩa cát tường như sau:

    4 chữ này chính là để mô tả bốn giai đoạn tuần hoàn của Thiên Đạo thể hiện trong vạn vật, cũng chính là quy tắc mà đế vương phải biết để điều chỉnh sự cai trị của mình cho phù hợp:

    Nguyên (Đại tại càn nguyên, vạn vật tư thỉ, nải thống thiên). Đạo trời là căn nguyên sinh ra, làm cho vạn vật phát triển. Quốc gia bách tính cũng như vậy. Đều do từ Đạo lớn mà vận hành.

    Hanh (Vân hành vũ hí, phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thỉ, lục vị thì thành, thì thừa lục long, dĩ ngự thiên). Nhờ căn nguyên ấy, nhờ nguồn sống vô biên ấy, vạn vật trở nên lớn mạnh, phát huy được mọi tiềm năng, tiềm lực. Nên đạo trị quốc chính là làm cho chính sự thông suốt, đơn giản tự nhiên mà hiệu quả, giảm bớt gánh nặng của dân mới là thuận theo đạo mà đạt được hanh thông vậy. Người cai trị không phải ở chỗ tích lũy mà ở chỗ làm cho đạo Trời tuần hoàn không bế tắc. Ý là nói vua phải luôn luôn tu thân sửa mình.

    Lợi Trinh (Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh. Thủ xuất thứ vạt, vạn quốc hoàn minh). Phát triển theo Đạo, thuận tự nhiên nên nhờ vậy mà luôn thuận lợi nhẹ nhàng. Chính sự hanh thông từ đạo đức và thiện tâm của nhà vua khi thi hành Thiên Đạo tất sẽ tự nhiên đem đến cái lợi cho sự cai trị chứ không phải dùng công cụ hình pháp hay các biện pháp vơ vét khác.

    Lợi ở đây chính là lợi cho quốc gia, lợi cho bách tính thì tự nhiên vua sẽ được lợi. Thánh nhân trị vì chính là lấy cái lợi ích của bá tánh đặt trước lợi ích của bản thân mà được cái lợi lâu dài vĩnh viễn thịnh trị cho quốc gia cùa mình, đó là chữ Lợi. Sau khi thi hành Thiên Đạo trong cai trị một cách hoàn hảo nhất, cuối cùng nhà vua sẽ đi đến chỗ thành tựu, đến chỗ hoàn thiện, trở thành Thánh nhân lưu lại công nghiệp thiên cổ, đó là chữ Trinh.

    Như vậy chỉ dùng bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh mà vẽ được tất cả vòng biến thiên, tiến hoá của Trời Đất, từ lúc manh nha (Nguyên) cho đến lúc kết quả (Trinh) hay cũng chính là 1 quy trình cai trị quốc gia từ lúc lên ngôi cho đến lúc băng hà. Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh ứng vào bốn mùa là Xuân, Hạ, Thu, Đông, và ứng vào tiết tấu biến dịch là: Sinh, Trưởng, Liễm, Tàng. Là bài học lớn mà bất kỳ ông vua nào cũng phải ráng thực hành suốt cả đời mình để đạt được 4 chữ này.

    Tóm lại, ý nghĩa của Điện Thái Hòa là thể hiện bài học về trị vì thiên hạ theo Đạo Trời. Thánh đế trị vì thiên hạ chính là người đã giác ngộ được cái căn nguyên của Đạo Trời nơi lòng mình (Nguyên), nên sẽ dùng quốc gia, thời gian, chính sách làm môi trường để tu luyện, để phát huy mọi khả năng biến hóa của Thiên Đạo nơi tự thân (Hanh), để đạt tới đỉnh cao lợi ích cho toàn dân (Lợi), để giáo hóa dân chúng đến tận thiện, làm cho mọi người sống trong cảnh thái bình, an lạc và để lại công nghiệp muôn đời (Trinh).

    Tử Cấm Thành: Nơi tu dưỡng đạo đức và tinh thần trong đời sống cá nhân của Hoàng đế

    Từ điện Thái Hòa ra phía sau sẽ đến Đại Cung Môn, chính là cửa lớn để ra vào Tử Cấm Thành. Đây là nơi ở chính thức của vua, hoàng hậu và các cung tần trong tam cung lục viện. Ví lý do đó nên từ kiến trúc đến tên gọi của các cung điện ở đây luôn được thiết kế với chuẩn mực cao nhất.

    Tử Cấm Thành nghĩa là thành cấm màu tía. Theo nghĩa Hán tự, chữ Tử có nghĩa là màu tím, lấy ý theo thần thoại: Tử Vi Viên ở trên trời là nơi ở của Trời, Vua là con Trời nên nơi ở của Vua cũng gọi là Tử. Cấm Thành là khu thành cấm màu tím cấm dân thường ra vào.

    Nói cách khác thì kiến trúc Tử Cấm Thành chính là thể hiện mở rộng của Quẻ Càn (tượng trưng vua và Trời) dùng trong điện Thái Hòa. Một cách tổng quan, ta sẽ thấy kiến trúc này khiến cho người sống bên trong nó phải sống tuân theo một chuẩn mực đạo đức khắt khe chưa từng có. Thực chất làm vua phong kiến không đơn giản như mọi người vẫn tưởng.

    Tử cấm thành. Ảnh dẫn theo chúng tôi Cần Chánh Điện: Tinh thần làm việc vì dân vì nước

    Qua Đại Cung Môn ta sẽ thấy hai bên 2 tòa nhà Tả Vu và Hữu Vu dành cho quan văn võ chuẩn bị triều phục trước khi vào chầu vua ở điện Cần Chánh. Hai tòa nhà này chính là ứng vào hai ngôi sao Tả Phù và Hữu Bật vốn là trợ thủ đắc lực của Tử Vi trên trời. Chái bắc Tả Từ Vu là viện Cơ Mật, chái nam là phòng Nội Các, nơi đây tập trung phiến tấu của các Bộ, Nha trình vua ngự lãm.

    Vì sao lại chia ra văn võ 2 ban như vậy? Chính là trị quốc cần làm tốt 2 mặt cứng mềm, văn võ phải song toàn chứ không thiên lệch bên nào cả. Làm vua càng phải rèn luyện binh pháp thao lược cũng như trau dồi văn tài mới có thể cầm cương quần thần hiệu quả.

    Sau hai tòa Tả Hữu Vu sẽ đến điện Cần Chánh, là nơi làm việc và sinh hoạt ăn uống chính của nhà vua. Cần Chánh mang nghĩa là làm vua phải siêng năng với công việc cai trị của mình, phải cần chánh thì mới quản được Tả Hữu Vu kia. Hãy xem lịch làm việc 1 ngày của vua như thế nào thì gọi là “cần chánh”.

    Trong: Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), John Barrow viết về một ngày của Gia Long như sau:

    ” Để cho phép mình tham dự một cách tốt hơn vào các vấn đề của chính quyền, cuộc sống của ông được điều phối bằng một kế hoạch không đổi. Vào 6 giờ sáng ông trở dậy và đi tắm nước lạnh. Vào 7 giờ sáng ông gặp các quan. Tất cả các lá thư đã nhận được ngày hôm qua được đọc, và lệnh của ông được các thư ký ghi chép lại. Sau đó ông đến xưởng vũ khí hải quân, kiểm tra các công việc được thực hiện trong thời gian ông vắng mặt, đi thuyền chèo quanh cảng, kiểm tra các tàu chiến. Ông đặc biệt chú tâm đến ban hậu cần. Và trong xưởng đúc, được dựng trong khu xưởng vũ khí, đại bác được đúc theo mọi kích cỡ. Đến 12 giờ hoặc 1 giờ, ông ăn sáng trong sân cảng, gồm có một ít cơm và cá khô. Đến 2 giờ, ông về phòng và ngủ đến 5 giờ. Đến lúc ấy ông trở dậy, gặp mặt các sỹ quan thủy quân và quân đội, những người đứng đầu tòa án hoặc phòng ban công cộng, và thông qua, loại bỏ, hoặc sửa đổi những gì họ đề xuất. Những công việc này thường sẽ đòi hỏi ông phải làm việc đến nửa đêm. Sau đó ông về phòng riêng để ghi chép và lập biên bản những việc đã xảy ra trong ngày. Sau đó ông ăn tối nhẹ, dành một tiếng đồng hồ với gia đình, và về giường lúc hai đến ba giờ sáng; như vậy, ông ngủ làm hai đợt, khoảng sáu tiếng trên hai mươi bốn tiếng. Ông không dùng rượu Trung Quốc, hoặc bất kỳ loại rượu chưng cất nào, và chỉ cần rất ít thịt là đủ rồi. Một ít cá, cơm, rau và hoa quả, với trà và bánh ngọt, là những món ăn chính trong thực đơn của ông… Thân hình ông cỡ trung bình; diện mạo cân đối và dễ gần; da hung đỏ, rất rám nắng do liên tục tiếp xúc với thời tiết. Đến thời điểm này (1806), ông mới vừa bước sang tuổi năm mươi”.

    Tử Cấm Thành đã coi như là nơi riêng tư để Hoàng đế sinh hoạt. Thế nhưng sinh hoạt đó lại phải xoay quanh việc chính là thiết triều để xử lý công việc nên điện Cần Chánh mới được thiết kế ở vị trí đầu tiên ngay khi bước vào Đại Nội. Điều đó cũng nói lên rằng ưu tiên lớn nhất của việc làm vua chính là chính sự.

    Làm vua chính là gánh vác mối lo của trăm họ nên ngay cả nơi ngủ nghỉ cũng phải ưu tiên cho công việc rồi sau đó mới đến giải trí cá nhân. Thế mới đúng là: “Lo trước nỗi lo thiên hạ, vui sau niềm vui thiên hạ”. Chỉ khi làm được vậy mới có thể khiến cho triều đại của mình được Nguyên Hanh Lợi Trinh và đạt đến Thái Hòa.

    Nói trên khía cạnh phong thủy và Dịch học thì thiết kế Cấm Thành với Cần Chánh điện chính là theo nguyên tắc “Dương trưởng âm tiêu”, khiến cho tinh thần Hoàng đế hăng hái làm việc, nhân cách hướng thượng sinh ra Dương khí mạnh mẽ để cân bằng lại khí Âm mạnh mẽ của sự vui chơi hưởng lạc ở Tam Cung Lục Viện ngay đằng sau. Điều đó sẽ khiến nơi ở của nhà vua đạt đến sự hài hòa, khiến cho mọi chuyện cát tường.

    Cung Càn Thanh và Khôn Thái: Duy hộ đạo đức nội cung, hạn chế ăn chơi hưởng lạc:

    Có câu “Vạn ác dâm vi thủ”, ý nói tham đắm nữ sắc dâm dục là điều cấm kỵ của toàn xã hội, không phân biệt vua chúa hay dân chúng. Chính vì lẽ đó, các bậc vua sáng nghiệp luôn rất lo lắng về chuyện con cháu mình ăn chơi hưởng lạc, sa đọa trong nhục dục mà để mất nước. Vậy nên khi xây dựng Tam Cung Lục Viện, các Hoàng đế đã rất chú ý vấn đề này, luôn để lại những lời nhắc nhở cho hậu nhân.

    Do đó sau điện Cần Chánh, chúng ta sẽ bàn đến 2 cung điện Càn Thanh và Khôn Thái. Đây là 2 cung điện dành cho vua và hoàng hậu ngủ nghỉ.

    Điện Càn Thanh trước năm 1811 gọi là điện Trung Hòa (trong câu “Trung hòa vị dục”) là nơi vua ở, trước điện có cái sân rộng, ao sen và bức bình phong chắn điện Càn Thanh và điện Cần Chánh. Điện nằm ngay trung tâm Tử Cấm Thành đặt trên nền cao 2 thước 3 tấc (gần 1m), được làm theo lối trùng thiềm điệp ốc gồm 3 tòa nhà ghép nối với nhau, chính điện 7 gian 2 chái kép, tiền điện và hậu điện đều 9 gian 2 chái đơn, nối với nhau bằng hai trần vỏ cua đỡ hai máng nước bằng đồng dài 50m, mái lợp ngói lưu ly vàng và lắp cửa kính. Hành lang vòng hai bên điện nối với điện Cần Chánh ở phía Nam và điện Cao Minh Trung Chính ở phía Bắc, hành lang bên hữu nối ra cung Diên Thọ.

    Một góc điện Cần Chánh, do chiến tranh một số công trình đã bị phá hủy. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Càn Thanh có nghĩa là bầu trời sáng đẹp trong xanh, chính là mang ý nghĩa mong cho tâm tư Hoàng đế lúc nào cũng sáng suốt và phẳng lặng như trời xanh. Điểm quan trọng nhất khi Thiên tử sinh hoạt ngủ nghỉ chính là phải làm sao đạt được trạng thái thân tâm thuần tịnh, hài hòa để có thể chiêm nghiệm và hiểu thêm đạo Trời.

    Điều này nghe có vẻ khó hiểu với các lãnh đạo hiện nay nhưng Hoàng đế thời xưa chính là luôn mong muốn bản thân tu hành đắc Đạo ngay trong lúc làm vua hay ít ra phải đạt được lối sống của một người tu hành nơi trần thế. Bởi vì chỉ có trong tâm thái thanh tịnh của cuộc sống đó thì nhà vua mới có thể trị vì tốt quốc gia của mình mà lập nên công nghiệp lưu danh thiên cổ. Hãy xem câu chuyện cầu Đạo của Hoàng Đế Hiên Viên:

    “Lần này Hoàng Đế đơn độc một mình, yên lặng đi lên núi Không Động. Lúc này Hoàng Đế đã học được cung cách khiêm tốn, trên đường đi gặp được một vị trưởng giả (tức là tiên ông Xích Tùng Tử). Xích Tùng Tử chỉ điểm cho Hoàng Đế rằng: “Tiên và phàm là không có biên giới, chỉ phân biệt ở trong tâm. Nếu không quản ngại lê bước trên đầu gối, thì lòng thành đó sẽ mở ra cả trăm cửa”. Trên đường đi, Hoàng Đế không ngừng suy nghĩ ý nghĩa của câu nói này. Đến khi đôi giầy của ông đã hoàn toàn mòn quẹt rách rưới, và bàn chân đau đến độ không thể đi bộ nổi nữa, ông đột nhiên tỉnh ngộ, quyết tâm đi tới núi Không Động bằng đầu gối. Đá và cát sỏi giống như dao cắt, cứa đầu gối của ông đến chảy máu. Máu của ông nhuộm đỏ cả đá trên đường đi. Quảng Thành Tử đã sớm biết sự việc Hoàng Đế lại đến cầu Đạo. Lòng thành và ý chí kiên trì của Hoàng Đế đã làm tiên ông Quảng Thành Tử cảm động. Lúc Hoàng Đế bò đến dưới chân núi Không Động, Quảng Thành Tử lập tức phái một con rồng vàng xuống chở ông lên núi. Sau đó Quảng Thành Tử đã truyền Đạo cho Hoàng Đế. Khi Hoàng Đế trở về nước, cứ y theo con đường mà tiên ông Quảng Thành Tử dạy bảo, yên lặng tu dưỡng thân tâm. Khi Hoàng Đế được 120 tuổi thì ông cưỡi rồng bay lên Trời giữa ban ngày”.

    Gần hơn nữa thì chính triều đại Nhà Trần có Trần Nhân Tông là vị vua của vương triều kính Phật số một Việt Nam, đã tu hành đắc Đạo, lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nước Đại Việt dưới thời ông đã đánh bại quân thù hùng mạnh nhất thế giới, trở nên hùng cường nhất trong lịch sử.

    Vì trí huệ chỉ phát sinh trong lúc tĩnh lặng nhất hay trong trạng thái thiền định nên kiến trúc của cung Càn Thanh cao to đẹp đẽ mà lại đơn giản thanh thoát khi phía trước chỉ có một sân rộng, bình phong và hồ nước nhỏ. Tất cả đều thiết kế với mục đích không làm xao nhãng sự tĩnh tâm của Thiên tử.

    Sau lưng điện Càn Thanh là cung Khôn Thái, nơi ở của Hoàng Quý Phi (nhà Nguyễn không lập Hoàng Hậu). Khôn Thái tức là mặt đất tươi đẹp, tên này lấy từ quẻ Địa Thiên Thái trong Kinh Dịch. Nó gồm sự kết hợp của quẻ Càn và quẻ Khôn, chính là tượng trời đất giao hòa, âm dương phối triển sản sinh vạn vật. Nó cũng như sự hòa hợp của vua và vợ, cần phải có đức dày, ổn trọng và nuôi dưỡng nguồn sống của vạn vật và sinh ra người kế tục cho hoàng triều.

    Điện chính của cung Khôn Thái là Cao Minh Trung Chính, chính là biểu dương cho đức hạnh của Hoàng quý phi giống như mặt trăng đêm rằm cao vời, sáng tỏ, tròn đầy ngay chính để xứng là bậc mẫu nghi thiên hạ.

    Các cung điện khác của các phi tần còn lại gồm có viện Thuận Huy, là chỗ ở các bà Tân. Phía tây viện Thuận Huy là viện Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Hoà, Đoan Trang và Đoan trường, là chỗ ở của các bậc Tiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng những tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là “lục viện”.

    Tên gọi các viện đều lấy chữ Đoan trong Đoan Chánh, nguồn gốc từ câu của Trang Tử: ” Đoan chánh nhi bất tri dĩ vi nghĩa, tương ái nhi bất tri dĩ vi nhân”. Ý tứ là ngay thẳng mà không biết thế nào là nghĩa, thương yêu mà không biết thế nào là nhân. Hàm ý là các phi tần còn lại phải sống đạo đức ngay chính, hạn chế việc câu dẫn Hoàng Đế bằng nhan sắc. Quả thật là suốt 9 đời chúa 13 đời vua Nguyễn không hề có một ông vua nào bị hủy hoại bởi tham đắm nữ sắc cả.

    Cung Diên Thọ và Trường Sanh: Nêu cao Đạo Hiếu, đề cao luân lý, làm gương cho dân:

    Có câu: ” Bách thiện hiếu vi tiên “. Hiếu đễ chính là quy chuẩn đạo đức quan trọng nhất mà vậc đế vương đạt đạo ắt phải luôn nghiêm cẩn tuân theo. Chính vì thế nên Cung Càn Thanh có một trường lang dẫn thẳng đến cung Diên Thọ và Trường Sanh, nơi ở của Thái hậu. Mục đích là để nhà vua có thể thuận tiện đến vấn an Thái hậu bất cứ lúc nào, thể hiện lòng hiếu thuận.

    Xét theo phong thủy lý số thì Ngũ hành của mẹ chính là sinh vượng cho con trai. Nhà vua ở gần mẹ để nghe lời chỉ dạy cũng như thấm nhuần đạo đức của mẹ mình mà cai trị ngày càng tốt hơn.

    Cung Diên Thọ gồm có Diên Thọ chính điện, điện Thọ Ninh, lầu Tịnh Minh, tạ Trường Du, các Khang Ninh. Các công trình này được nối kết với nhau bằng hệ thống hành lang có mái che.

    Cung Diên Thọ. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Tên các cung điện nói lên sự cầu chúc cho Thái hậu được trường thọ và khỏe mạnh (Diên Thọ, Thọ Ninh, Khang Ninh). Sự trường thọ và khỏe mạnh này chính là đảm bảo cho phúc đức nhà vua được lâu dài vậy. Bản thân nhà vua cũng không dám và sẽ không bao giờ lỗi đạo Hiếu. Tất cả các vua chúa nhà Nguyễn các đời đều là những người con rất có hiếu vậy. Vua Tự Đức khi xây lại cung cho mẹ mình đã dụ như sau:

    “Từ trước đế vương hiếu thờ cha mẹ, trong có phòng nghỉ, ngoài có cung triều, lễ rất tôn nghiêm, phép rất lớn lao. Trẫm lấy thân nhỏ mọn, được nối nghiệp lớn, thực là nghĩ đức tính hiếu từ, phép dạy phải nghĩa của Thánh mẫu nên đến được như thế”.

    Nguồn: Tĩnh Thủy/ĐKN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Xem Phong Thuỷ Từ Xa
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền, Phongthuyvnn.com
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền
  • Tầm Quan Trọng Của Phong Thủy Trong Kiến Trúc
  • Nhìn Nhận Chính Xác Khái Niệm Phong Thủy Và Vai Trò Phong Thủy Trong Kiến Trúc
  • Phong Thủy Trong Kiến Trúc Kinh Thành Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Bố Trí Nhà Hợp Phong Thủy
  • Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Ở Theo Phong Thủy Thế Nào?
  • Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Đẹp Theo Phong Thủy Tuổi 2001
  • Như Thế Nào Là Mặt Tiền Nhà Đẹp Hợp Phong Thủy?
  • Tính Khoa Học Của Phong Thủy Trong Kiến Trúc Truyền Thống
  • Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.

    Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

    Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế

    Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo quay mặt hơi chếch về hướng Ðông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Ðây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy

    Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

    Năm lối đi vào Ngọ Môn tựơng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử. Một trăm cột là tổng của các con số Hà Ðồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Ðại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.

    Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều đựơc đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự.

    Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Thủy Với Đời Sống Và Nhà Ở
  • Chuyên Gia Phong Thủy Là Gì Qua Cách Phân Tích Của Kiến Trúc Sư Hoàng Trà
  • Phong Thủy Trong Kiến Trúc Khi Xây Dựng Nhà Trọn Gói
  • Phong Thủy Trong Kiến Trúc Nhà
  • Nghệ Thuật Phong Thủy Trong Kiến Trúc Tử Cấm Thành
  • Kiến Trúc Kinh Thành Huế Và Những Điều Thú Vị Về Địa Thế Phong Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Dich Vụ Tư Vấn Phong Thủy & Tâm Linh
  • Top 5 Cửa Hàng Bán Đồ Đá Phong Thủy Uy Tín, Giá Rẻ Ở Tphcm
  • Top 5 Giá Thể Trồng Lan Tốt Và Rẻ Nhất Mà Bạn Nên Biết?
  • Nghiên Cứu Các Vật Liệt Làm Giá Thể Trồng Dendrobium Tại Thủ Đức
  • Vòng Tay Đá Phong Thủy Đá Tự Nhiên 100% Chất Lượng Và Uy Tín
  • Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.

    Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng.

    Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

    Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế

    Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo, quay mặt hơi chếch về hướng Đông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Đây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy.

    Mặt khác, để tạo phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

    Năm lối đi vào Ngọ Môn tượng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử.

    Một trăm cột là tổng của các con số Hà Đồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Đại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.

    Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều được đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự (chín con rồng trong Long sinh cửu phẩm ).

    Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

    Nguồn: Phong Thuy – Thế Giới Phong Thuy

    Bài Đăng Liên Quan

    Tags: phong thủy cố đô huế, phong thủy cung đình, phong thủy học, phong thủy huế, phong thủy kinh thành huế, phong thủy kinh đô huế, phong thủy phong kiến, phong thủy quốc gia, phong thủy tạp luận, phong thủy thành phố huế, phong thủy thừa thiên huế, phong thủy triều đình, phong thủy đất huế, phong thủy địa thế, địa thế phong thủy huế

    Phong Thuy – Phong Thuy Hoc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Vấn Phong Thủy Quốc Tế
  • Nam Sinh Năm 1964 Tuổi Giáp Thìn Xem Phong Thủy Hướng Nhà Ở Tốt Hợp
  • Tử Vi Tuổi Giáp Thìn 2021
  • Sinh Năm 1964 Mệnh Gì? Vòng Phong Thủy Hợp Tuổi Giáp Thìn Năm 2021
  • Hướng Dẫn Cách Tìm Thầy Phong Thủy Giỏi Ở Hà Nội
  • Phong Thuỷ Trong Sân Nhà

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Học Và Học Phí Các Khóa Học Phong Thủy Tại Tphcm
  • Khóa Học “thay Đổi Số Phận Theo Khoa Học Phong Thủy Chuyên…
  • Phong Thủy: Có Phải Phong Thủy Là Bộ Môn Thần Bí, Bí Hiểm?
  • Khóa Học Cho Người Tuổi Thân
  • Phiếu Cảm Nhận Về Khóa Học Phong Thủy Của Học Viên Trần Văn… (Kinh Doanh)
  • Ngày trước, khi thiết kế một khoảng sân cho nhà, tôi chỉ nghĩ rằng sân nhà đơn giản chỉ là giúp xử lý vi khí hậu kiến trúc, là chỗ để xe khi khách đến nhà. Rồi thiết kế nhà có vườn cũng chỉ nghĩ đến việc làm sao cho vườn đẹp, trồng cau hay trồng lộc vừng cho sang… Và cũng lại nghĩ: Cái sân ở quê trong ký ức nó đẹp chẳng qua là do ngày đó chẳng có gì để chơi nên đứa trẻ nào cũng tha thẩn với nó, còn bây giờ trong cuộc sống hiện đại thì làm gì có nhiều ý nghĩa tinh thần nữa. Tôi cũng như nhiều KTS khác, chưa bao giờ nghĩ rằng sân nhà lại có vai trò rất lớn trong phong thuỷ bởi quan niệm phong thuỷ phải là cái gì huyền bí, cao siêu lắm. Xét qua các trường phái phong thuỷ thịnh hành như Bát trạch, Huyền không cũng chưa thấy có phân tích nào cụ thể về Phong thuỷ của không gian này. Cho đến bây giờ, khi đi sâu vào nghiên cứu phong thuỷ trong kiến trúc, tôi mới có đủ tư duy để nhận ra rằng Sân nhà có nhiều ý nghĩa trong phong thuỷ – bởi nó luôn gắn bó mật thiết với ngôi nhà và tự nhiên – qua sự vận động của âm dương, và chất của Phong thuỷ chính là thể hiện những triết lý từ thiên nhiên mà thôi …

    Trước nhà thiết kế sân – sau đó đến thảm cỏ nhưng không trồng cây lớn để nhà trở thành chủ thể chính trong bố cục

    Nghiên cứu về phong thủy, chúng ta sẽ nhận thấy “Môi trường sống như thế nào tư duy của bạn sẽ như thế đấy” – Hay nói như cách của cha ông ta “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” cho nên với cấu trúc “sân trước nhà” thì dương khí trong nhà sẽ rất vượng, nhiều sinh khí, ít tà khí. Khi ở những môi trường này, trải qua một quá trình tích luỹ và trải nghiệm về không gian, thời gian, những thế hệ sống trong nhà, đặc biệt là trẻ em sẽ có đời sống tinh thần phong phú, có tâm hồn và lối suy nghĩ sâu sắc hơn những đứa trẻ sống trong những căn nhà mặt phố đóng kín …

    Xét theo nguyên lý vận động và biến hóa của Khí, với những nhà có cấu trúc sân cao hơn đường, nền nhà lại cao hơn sân, thì sân trước nhà lúc này sẽ có tác dụng lọc bớt tạp khí từ bên ngoài, giúp sinh khí vào nhà thanh sạch hơn. Khí vận động từ ngoài đường vào đến nhà đã qua hai lần thanh lọc và biến hóa, chính vì vậy, những gia đình sống trong đó sẽ luôn giữ được sự thanh tao trong tính cách, ít bị ảnh hưởng bởi sự xô bồ, thô trọc bên ngoài…

    Đi vào chi tiết, ta nhận thấy trong thực tế xây dựng, sân có thể không đứng độc lập với nhà mà đi cùng với nó là không gian của cây xanh, mặt nước gắn liền. Khi thiết kế sân và vườn trong nhà ở có thể chia làm các dạng cấu trúc chính như sau:

    Tạo bể cảnh ở sân trước

    1. Sân, vườn trong cấu trúc nhà ở có khuôn viên rộng

    Thiết kế sân, vườn nhà cho các dạng nhà này phải lưu ý về tỷ lệ của sân so với nhà, nếu sân quá lớn sẽ rơi vào cách cục “khách lấn chủ”, lúc đó tuy cơ hội, khả năng kiếm tiền, bạn bè… có thể có nhiều nhưng thường không có thực chất, không mang lại hiệu quả mong muốn. Trường hợp này rất hay gặp trong cấu trúc nhà ở nông thôn. Tuy nhiên, cần nhắc lại rằng ngay cả với trường hợp này ở nhà ở nông thôn, những giá trị tinh thần mà dương khí đem lại cho ngôi nhà vẫn rất lớn.

    Khi thiết kế phong thủy cho vườn trong nhà dạng này thì cần lưu ý:

    – Đối với sân trước nhà ở tại các hướng chịu bức xạ mặt trời lớn như hướng Đông, Tây, Tây Bắc, Tây Nam – là các hướng vào mùa hè bị ảnh hưởng của “Dương sát”, cần tăng cường “Âm” bằng cách giảm diện tích sân, tăng cường vườn cây, thảm cỏ hay trồng cây lớn, cây bóng mát.

    – Nhà tại các hướng Nam, Đông Nam, Bắc, Đông Bắc, do không chịu ảnh hưởng của Dương sát nên trồng cây và làm vườn cần “tinh” chứ không cần “đa”, nên trồng cây thân nhỏ hoặc làm thảm cỏ là chính. Vì nếu vườn lớn hơn sân hay cây quá to so với nhà sẽ khiến cho dương khí không còn tụ được ở sân. Trong cấu trúc này, điểm quan trọng nhất là thiết kế bố cục hợp lý để ngôi nhà và sân trước nhà luôn trở thành chủ thể chính trong bố cục, tránh rơi vào cách cục “khách lấn chủ” và tránh cho Khí bị tán mà không tụ.

    2. Sân, vườn trong nhà ở liền kề trong đô thị

    Cấu trúc nhà liền kề ngày nay thường có xu hướng làm sân trước và sân sau để xử lý vi khí hậu trong kiến trúc. Khi thiết kế phong thuỷ, do diện tích sân trước nhà thường không lớn nên cần để không gian được thoáng tối đa, không để đồ cũ, không trồng cây to trước sân và lưu ý thêm về vị trí mở cổng để đón khí cho sân thêm vượng khí.

    Với sân sau nhà, tuy có thể kết hợp làm không gian phơi đồ, nhưng cần lưu ý vị trí mở cửa từ nhà ra sân sau phải bố trí hợp lý để tránh làm căn nhà bị thoát khí.

    Khi thiết kế nhà liền kề, trong các trường hợp có thể người thiết kế nên dành một quỹ đất dù nhỏ để tạo một khoảng sân trước nhà, không nên xây nhà hết đất. Làm được điều này thì hiệu quả phong thủy mang lại còn lớn hơn rất nhiều so với việc chuyển cửa, đặt bếp cho hợp hướng chủ nhà.

    Thảm cỏ, cây lớn trước nhà làm giảm bức xạ nhiệt và giúp cân bằng âm dương theo phong thủy

    3. Nguyên tắc đặt bể cạn, non bộ trước sân nhà

    Ngày nay, khi có điều kiện kinh tế, nhiều gia đình thường muốn đào hồ non bộ, làm đài phun nước trước sân hay lối đi vào nhà trên mặt nước với mục đích tạo ra cách cục giống như “Minh đường tụ thuỷ” trong phong thuỷ. Với những trường hợp này khi làm cần phải dựa trên nguyên lý về địa hình để quyết định.

    Bể cạn, bể non bộ trước sân nhà chỉ nên đặt ở nhà có vị trí mạch khí giao thoa hay khí có biến động lớn như nhà ở ngã ba, ngã tư phố, nhà nằm cuối con đường dài… nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của sát khí trước khi vào nhà. Với những trường hợp này, việc đặt bể non bộ, bể cạn, chậu cây to… có tác dụng “trấn” – sẽ mang lại sự ổn định cho gia đình.

    Với những khu đất thiếu sinh khí thì cũng nên làm hồ có đài phun nước để tạo sự vận động cho dòng khí dương – mang lại sự thịnh vượng.

    Với những ngôi nhà trong ngõ nhỏ, nhà nằm xa đường lớn, nơi địa hình kín gió, có mạch khí chậm thì khi đặt bể non bộ, hồ nước trước nhà, vô hình chung sẽ làm cản trở sự lưu thông của mạch khí vận động phía dưới. Theo nguyên lý “Khí gặp nước thì dừng”, nếu bể non bộ, hồ nước đặt ở đây sẽ chỉ mang tính trang trí chứ không có ý nghĩa phong thủy, nếu tỷ lệ và vị trí không hợp lý thì còn làm giảm đi sự thịnh vượng của ngôi nhà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cúng Động Thổ Xây Nhà 2021
  • Hướng Dẫn Cách Thực Hiện Nghi Thức Lễ Cúng Động Thổ Khi Xây Nhà 2021
  • Lễ Cúng Động Thổ Xây Nhà
  • Hướng Dẫn Cúng Động Thổ Xây Nhà Chi Tiết Nhất
  • Hướng Dẫn Động Thổ Xây Nhà Mới Và Văn Khấn Động Thổ Đầy Đủ Nhất Chuẩn Nhất
  • Kiến Trúc Phong Thủy Cố Đô Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lỗi Thiết Kế Nhà Phạm Phong Thủy Cần Tránh
  • Điều Bí Ấn Trong Thiết Kế ‘sân Vườn Trung Quốc’ Theo Thuật Phong Thủy Dân Gian.
  • Mua Sách Phong Thủy Ứng Dụng Trong Kiến Trúc Hiện Đại Giảm Giá
  • Vật Phẩm Hoá Sát Phong Thuỷ
  • Cách Đặt Kỳ Lân Phong Thủy Thu Hút Tài Lộc
  • So với các cố đô khác ở Đông Nam Á, Huế là nơi bảo lưu được tương đối nguyên vẹn nhất diện mạo của một quần thể kiến trúc kinh đô thời quân chủ, bao gồm thành lũy, cung điện, lăng tẩm v.v… Nó đã được triều Nguyễn (1802-1945) cho quy hoạch và xây dựng một cách có hệ thống, đầy tính triết lý và giàu chất nghệ thuật.

    Ngày 11-12-1993, Ủy ban Di sản Thế giới (thuộc UNESCO) đã công nhận Quần thể Di tích Huế là Di sản Văn hóa của nhân loại, khi nhận định rằng :

    “Quần thể Di tích Huế là một thí dụ điển hình về thiết kế đô thị và xây dựng một thành phố kinh đô có phòng thủ, biểu hiện quyền lực của vương quốc phong kiến ngày xưa ở Việt Nam vào thời tột đỉnh của nó đầu thế kỷ 19”.

    Ở Bờ Bắc sông Hương, kinh thành với diện tích 500 ha và chu vi gần 10 km đã được xây dựng để bảo vệ cho mọi cơ quan và các sinh hoạt hành chánh của triều đình. Xây dựng suốt 27 năm (1805-1832) với hàng triệu nhân công, kinh thành Huế là một kỳ công của dân tộc. Bên trong kinh thành là Đại hội, gồm Hoàng thành và Tử Cấm thành, với hơn 100 công trình kiến trúc lớn nhỏ, trong đó có hàng chục cung điện lộng lẫy vàng son, dành cho vua cùng các đình thần làm việc và hoàng gia ăn ở.

    Xa xa về phía Nam sông Hương là 7 khu lăng tẩm của các vua từ Gia Long đến Khải Định. Lăng tẩm các nhà vua Nguyễn là những đóa hoa nghệ thuật đầy hương sắc nở ra giữa chốn núi rừng. Mỗi lăng vua là một cõi thiên đường mà chủ nhân của nó đã tạo ra khi còn tại vị, để sau đó trở thành cõi sống vĩnh cữu của mình ở thế giới bên kia. Chính nhờ vẻ đẹp mỹ miều đầy chất triết lý ấy mà lăng tâm Huế đã được đánh giá là một thành tựu rực rỡ nhất trong nền kiến trúc cổ của đất nứớc và được xem là một kỳ quan của thế giới.

    Nằm xen kẽ giữa các khu vực kiến trúc nghệ ấy và rải rác đó đây là đàn Nam Giao (nơi vua tế trời), Hổ Quyền (chỗ voi cọp đấu nhau), Văn Miếu (với 32 tấm bia tiến sĩ), diện Hòn Chén (nơi thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na), núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, núi Bạch Mã, Cầu Ngói Thanh Toàn và đặc biệt nhất là dòng sông Hương kiều diễm.

    Là thủ đô Phật giáo của Việt Nam một thời, Huế có hàng chục ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc giữa những thung lũng của vùng gò đồi tĩnh mịch hay trong các thôn làng hẻo lánh. Huế cũng là thành phố của nhà vườn, với bao ngôi nhà cổ nép mình trong những xóm phường yên ả giữa lòng cố đô.

    Dựa vào các nguyên tắc địa lý phong thủy (géomancie) của Đông phương và thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học, các nhà kiến trúc đầu thế kỷ XIX đã cho hệ thống thành quách và cung điện ấy quay mặt về hướng nam. Họ đã dùng núi Ngự Bình cao 104 m (cách bờ nam sông Hương 3km) làm tiền án và hai hòn đảo nhỏ mang tên Cồn Hến và Dã Viên trên sông Hương làm “Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ” chầu vào trước mặt kinh thành.

    Trên các mặt thành đều có xây các pháo đài (bastion), giác bảo (lunette d’angle), pháo nhãn (embrasure), tường bắn (mur de tir), vọng lâu (mirador) .. để canh gác, phòng thủ. Ở giữa mặt tiền kinh thành là Kỳ đài cao lớn uy nghi.

    Được kết hợp với các nguyên tắc kiến trúc của Đông phương lẫn Tây Phương và vận dụng vào điều kiện địa lý tại chỗ để xây dựng một cách thích hợp và tự nhiên, Kinh thành Huế là cái thành vĩ đại và kiên cố nhất so với các Kinh đô khác trong lịch sử Việt Nam.

    Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc hết sức chặt chẽ, cân đối, nhịp nhàng và liên tục. Phần lớn đối xứng nhau từng cặp qua đường trục chính của Đại Nội, gọi là đường Dũng đạo, và các công trình kiến trúc đều ở vào những vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ rất nhất quán. Các nguyên tắc cổ điển được tôn trọng : tả văn, hữu võ, tả na, hữu nữ, tả chiêu, hữu mục … Các con số Dịch học đã được áp dụng tối đa, nhất là số 9 và số 5 trong hào “cửu ngũ” của Kinh dịch :”Ngọ Môn 5 cửa 9 lầu”, cửu đỉnh, cửu vị thần công, cửu phẩm v.v…

    Về vị trí, phương hướng của Kinh Thành, các nhà kiến trúc Việt Nam thời Gia Long đã áp dụng các nguyên tắc Âm Dương ngũ hành của Dịch học, Kinh Thành quay mặt về phía Nam, vì Kinh dịch đã viết :”Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” (vua quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ). Dùng núi Ngự Bình ở phía nam sông Hương làm tiền án. Chọn cồn Hến và cồn Dã Viên trên sông làm thế “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”… Nghệ thuật kiến trúc Việt Nam biểu lộ rõ nét nhất là những vọng lâu bên trên các cửa thành : mái lợp ngói âm dương, bốn góc uốn cong hình con phụng, mặt trong của vọng lâu lại khoét hai bên hai chữ “thọ” lớn, làm toàn bộ vọng lâu giống như một cái miếu cổ.

    Về nghệ thuật bố phòng quân sự, Kinh Thành Huế được xây dựng theo kiểu thành lũy của Vauban : chung quanh xây 24 pháo đài và giác bảo, cùng một thành phụ là Trấn Bình Đài. Tất cả các bộ phận đó cùng với vòng đai bảo vệ bên ngoài là Hộ Thành Hà, hào, thành giai (glacis), phòng hộ (berme) … tạo nên một hệ thống bố phòng rất nghiêm ngặt, vững chắc.

    “Kinh Thành Huế nhất định là cái pháo đài đẹp nhất và đều đặn nhất ở Đông Dương, kể cả pháo đài William ở Calcutta và Saint – Georges ở Madras do người Anh làm”.

    “Nét ưu việt trong kiến trúc Kinh Thành Huế là sự kết hợp chặt chẽ đầy trí tuệ giữa kiến trúc và thiên nhiên, kéo thiên nhiên về phía mình để phục vụ cho ý đồ quy hoạch. Sông Hương không chỉ là trục giao thông quốc phòng đường thủy nối liền với các cửa khẩu, mà còn là xương sống tạo nên vẻ đẹp của thành phố, hệ thống sông ngòi và hồ có chức năng bảo vệ thành trì .. vừa là nơi trồng sen tạo nên vẻ yên tĩnh, sâu thẳm của thành phố từ hạ sang thu. Cũng trong ý đồ quy hoạch thông minh ấy, vùng rừng đồi Tây Nam Huế được dùng cho quần thể các kiến trúc lăng tẩm và những làng vườn trung du, đồng thời là vùng đất dự trữ nhằm phát triển thành phố về sau”.

    Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc rất chặt chẽ, đăng đối. Phần lớn các công trình kiến trúc đều đối xứng từng cặp qua đường trục chính và ở vào những vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ nhất quán. Các con số 9 và số 5 trong Kinh dịch đã được sử dụng nhiều trong kiến trúc vì nó ứng với mạng Thiên tử.

    – Các công trình kiến trúc biểu hiện rõ tư tưởng độc tôn quân quyền. Tử Cấm Thành là một tiểu vũ trụ của hoàng gia, trong đó có đầy đủ mọi tiện nghi sinh hoạt : ăn, ở, làm việc, giải trí. Điện Càn Thành, nơi nhà vua ăn ngủ, tọa lạc ở trung tâm của vũ trụ đó.

    Vì Kinh dịch quy định ông vua bao giờ cũng quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ, cho nên, ngay từ thời Gia Long (1802-1819), khi xây dựng kinh đô Huế, các nhà kiến trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị thế “tọa càn hướng tốn” (tây bắc – đông nam). Hướng này cũng được xem như hướng bắc – nam. Đối với ngai vàng trong điện Thái Hòa được xem như vị trí trung tâm của mặt bằng tổng thể, Ngọ Môn nằm ở phía nam của nó. Căn cứ trên la kinh (la bàn) của khoa địa lý phong thủy Đông phương, phía nam thuộc hướng “ngọc” trên trục “tý – ngọ” (nghĩa là bắc – nam). Do đó, triều Minh Mạng đã đặt tên cho cái cổng mới xây ở chính giữa mặt trước Hoàng Thành và Ngọ Môn, thay cho cái tên cũ trước đó là Nam Khuyết Đài. Chúng ta nên hiểu Ngọ Môn là cổng phía nam với ý nghĩa mang tính không gian, chứ không nên cho rằng chữ “ngọ” ở đây mang tính thời gian là giờ “ngọ”, lúc mặt trời đứng bóng giữa ngày. Thành thử, không thể dịch chữ Ngọ Môn ra thành “Noon Time Gate” như có người đã dịch. Có hiểu đúng ý của người xưa khi đặt tên, mới thấy rõ hơn vị trí của Ngọ Môn trong tổng thể kiến trúc Đại Nội. Ngày xưa, cổng này thường đóng chặt quanh năm, chỉ được mở khi vua ra vào Hoàng Thành có đoàn Ngự đạo đi theo, và trong những dịp tiếp kiến các sứ thần ngoại quốc quan trọng trong Hoàng Cung.

    Mặt khác, những số đếm trên kiến trúc Ngọ Môn cũng đã được áp dụng theo nguyên tắc của Dịch học Đông phương, chẳng hạn như số 5, số 9, số 100. Năm lối đi tượng trưng cho “Ngũ hành”.

    Hai chữ “thái hòa” có gốc từ kinh Dịch. Ở phần viết về quẻ “Càn” trong sách này có câu:”Bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh” (tạm dịch : giữ gìn và thể hiện được sự hòa hợp thì lợi ở điều chính). Trong lời chú giải về câu ấy, Chu Hy viết “Thái hòa, âm dương hội hợp xung hòa chi khí dã” (thái hòa là cái khí âm dương hội hợp mà dung hòa với nhau). Càn, quẻ đầu tiên trong “bái quái” là quẻ nói về những biểu tượng cao cả nhất, như trời, như vua … Người ta nói tượng trời là “Càn tượng”, quyền vua là “Càn cương”. Những biểu tượng ấy thuộc về “dương”. Nếu ông vua, người cầm cương nẩy mực trong thiên hạ, mà chỉ thuần có “dương” thôi thì dễ sinh ra “cương bạo” (cứng cỏi hung ác). Cho nên, cần phải giữ cho được sự hòa hợp tốt đẹp giữa dương và âm, cương và nhu, thì mới hữu ích cho vạn vật. Ở một câu khác trong quẻ Càn, Chu Hy đã chú thích rằng :”Quân đạo cương nhi nhu, thiên hạ vô bất trị hỹ” (Đạo làm vua cứng mà biết mềm, thì mọi việc trong thiên hạ đều bình trị được cả).

    Về trang trí cũng như kiến trúc của điện Thái Hòa nói chung, có một khái niệm đáng lưu ý đặc biệt là con số 5, và nhất là con số 9. Hai con số ấy xuất hiện chẳng những ở trang trí nội ngoại thật của tòa nhà mà còn ở trên các bậc thềm của nó nữa. Từ phía Đại Cung Môn của Tử Cấm Thành đi ra điện Thái Hòa, vua phải bước lên một hệ thống bậc thềm ở tầng nền dưới là 9 cấp và ở tầng nền trên là 5 cấp. Trước mặt điện số bậc cấp bước lên Đệ nhị Bái đình và Đệ nhất Bái Đình cộng lại là 9. Tiếp đó, hệ thống bậc thềm ở nền điện cũng có 5 cấp. Đứng ở sân Đại Triều nhìn vào, hay từ phía Tử Cấm Thành nhìn ra, người ta đều thấy trên mỗi mái điện đều được đắp nổi 9 con rồng ở trong các tư thế khác nhau : lưỡng long chầu hổ phù đội bầu rượu, lưỡng long chầu mặt nhật, hồi long (rồng quay đầu lại), rồng ngang v.v.. Ở nội điện cũng thế, từ ngai vàng, bửu tán, các mặt diềm gỗ chung quanh, cho đến mỗi mặt của ba tầng bệ : mỗi nơi đều trang trí một bộ 9 con rồng. Có thể nói rằng điện Thái Hòa là giang sơn để cho loài rồng bay lượn. Các nhà kiến trúc triều Nguyễn đã lấy ý nghĩa của con rồng và con số ấy từ hào “cửu ngũ” trong kinh Dịch để thể hiện thành những hình ảnh đó. Hào này viết “Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân (như con rồng đã hiện ra giữa trời, mình đi ra mắt kẻ đại nhân thì có lợi). Hào cửu ngũ (chín năm) thuộc quẻ Càn, ứng với mạng thiên tử, sánh với đức của thánh nhân, ở vào địa vị tột đỉnh trong xã hội (cư tôn vị). Cho nên, chỗ vua ở thường được gọi là chốn cửu trùng, địa vị của vua gọi là “cửu ngũ chi tôn” hoặc “tôn cưu cửu ngũ”.

    Cách đây gần 80 năm, một người Tây phương tên là Ph. Eberhard đã viết :

    “Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có Kinh Thành, Hoàng Thành và lăng tẩm, có một sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt của du khách và các nhà mỹ thuật. Chỉ riêng lăng tẩm các vua nhà Nguyễn không thôi cũng đã đủ có giá trị đối với cuộc du lịch rồi, theo ý kiến chung, lăng tẩm Huế đẹp hơn lăng tẩm các vua nhà Minh ở Trung Quốc”.

    Nhiều thể hiện trên di tích tại chỗ cho thấy vua là đấng chí tôn được biểu trưng bằng hình ảnh mặt trời cao cả. Và hình ảnh mặt trời lặn biểu thị khái niệm vua băng hà. Khi đã băng hà, vua cùng mặt tròi đi về phía tây để an giấc ngàn thu nơi vùng đồi núi tĩnh mịch. Ở góc trời yên ả đó có dòng sông Hương êm đềm thơ mộng chảy qua.

    Ít ai nghĩ rằng vùng lăng Gia Long rộng tới 2.875 ha và có đến 42 ngọn núi chầu vào trung tâm điểm là mộ địa. Vùng lăng Triệu Thị rộng 475 ha, có những ngọn núi đứng làm tiền án cách xa lăng đến 8km. Trước mặt lăng Khải Định là dòng khe Châu Ê chảy khuất khúc từ trái sang phải rồi rẽ lại theo thế “chi huyền thủy” và hai bên là hai dãy núi Chóp Vung và Kim Sơn nằm trong tư thế rồng chầu hổ phục.

    Hầu hết các núi đồi, khe suối, sông hồ, cây cỏ ở miền cận sơn xứ Huế đều đã được tận dụng hoặc chỉnh trang lại, cải tạo thành để làm bối cảnh cho kiến trúc lăng tẩm. Các nghệ nhân tài ba ngày trước đã khai thác không gian và thiên nhiên ngoại cảnh một cách triệt để, đưa chúng vào trong kiến trúc một cách chủ động, bắt chúng phải phục tùng ý định của tác giả công trình. Đồng thời, nơi nào thiên nhiên thiếu sót thì họ uốn nắn lại, hoặc đưa kiến trúc vào để tạo nên một vẻ mỹ quan thích đáng. “Không gian bên ngoài luồn vào không gian của kiến trúc, kéo kiến trúc về với thiên nhiên, góp phần tổ chức lại không gian chung”.

    Năm 1918, Phạm Quỳnh đã nhận xét trên tạp chí Nam Phòng :

    “Lăng đây là gồm cả màu giời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gió thổi ngọn cây, suối reo hang đá … Lăng đây là bức cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ghép thêm một bức cảnh nhân tạo tuyệt khéo. Lăng đây là cái nhân công tô điểm cho sơn thủy … Không biết lấy nhời gì mà tả được cái cảm lạ, cái êm đềm vô cùng … Không đâu cái công dựng đặt của người ta với cái vẻ thiên nhiên của giời đất khéo điều hòa nhau bằng ở đây, cung điện đình tạ cùng một màu, một sắc như núi non, cây cở …”

    Vào thăm lăng tẩm Huế, người ta có cảm giác như đi chơi ở công viên mỹ lệ giữa chốn núi rừng bao la, ở đó có thể nghe thấy được chim hót, hoa nở, suối chảy, thông reo.

    Kiến trúc lăng tẩm Huế có ngôn ngữ riêng biệt và ý nghĩa sâu xa của nó. Có hiểu thấu thì mới giải thích được tại sao ở chốn âm phần lại có cả hệ thống cung điện để ăn chơi hưởng thụ, có cả nhà hát để thưởng thức nghệ thuật sân khấu và sắc đẹp giai nhận, mới lý giải được tại sao phần nội thất cung Thiên Định ở lăng Khải Định giống như một viện bảo tàng mỹ thuật trông thật vui mắt, sống sít, và mới biết được tại sao khắp các lăng tẩm đều trang trí rất nhiều hóa văn hình chữ “thọ” (nghĩa là sống lâu) và chữ “hỷ” (nghĩa là vui mừng).

    Kiến trúc lăng tẩm Huế còn cho thấy một thái độ thanh thản khôn ngoan đối với cái chết tất nhiên phải đến với đời người. Lăng và tẩm có nơi chỉ gần nhau trong gang tấc. Các vua đến vui chơi trong khu vực tẩm, nhìn qua cái huyệt đào sẵn ở khu vực lăng mà chẳng băn khoăn lo sợ, ngược lại, họ vẫn sống tự tại, ung dung. Thấu hiểu quy luật tư nhiên của đời người, họ vui vẻ trước cái chết và sẳn sàng chờ tử thần đến đưa họ đi qua thế giới bên kia. Vì đó là ngôi nhà vinh cửu, nơi an giấc ngàn thu, cõi trường sinh bất diệt. Do vậy, kiến trúc ở đây đã thể hiện được một sự tổng hợp (synthèse) giữa đạo (religion) với đời (profane) và trở thành cõi sống của những người đã chết. Kiến trúc giàu tính nghệ thuật ấy đã làm cho nỗi tang tóc lắmkhi phải nhường chỗ cho niềm vui tươi.

    Vào thăm lăng tẩm ở Huế, người ta không hề gặp những hình ảnh gây ấn tượng chết chóc, sợ hãi, lạnh lùng như vào viếng “Minh thập tam lăng” ở Trung Quốc, người ta cũng không cảm thấy mình trở nên nhỏ bé bị áp lực nặng nề, và bị “dọa nạt” như khi đứng trước những kim tự tháp quá đồ sộ của các Hoàng đế Ai Cập. Trong lăng tẩm Huế, con người vẫn là chủ thể của kiến trúc và thiên nhiên, Ở đây, người ta bắt gặp những hình ảnh quen thân, gần gũi, có được cảm giác lâng lâng thích thú giữa thực và mộng. Một du khách Tây phương đã từng nói lăng tẩm Huế là nơi “tang tóc mỉm cười và vui tươi thổn thức. Charles Patris trong một bài thờ viết về lăng tẩm Huế cũng đã cho rằng :

    Các vua nhà Nguyễn khôn ngoan,

    Làm cho cái cảnh tóc tang biết cười.

    Lăng Gia Long hoành tráng mà đơn giản như cuộc đời của một võ tướng. Mật độ kiến trúc tương đối thưa. Các công trình được trải ra theo chiều ngang. Rộng rãi mênh mông nhưng ở đây không có lâu đài đình tạ và cũng chẳng xây dựng la thành. Núi đồi chung quanh dăng ra như một vòng thành thiên nhiên bao bọc. Đơn giản nhất là trong khu mộ táng thi hài vua và hoàng hậu. Hai nấm mộ bằng đá nằm song song, cách nhau chỉ một gang tay, có cùng khuôn khổ và kích thước, bên trên đều có hai máiu chảy xuôi trông như những mái nhà mà thời gian đã nhuộm đen thành màu than đá. Không một nét chạm trổ, chẳng một màu sơn thếp, tất cả chỉ là những tấm đá thanh phẳng lì, trơ trụi, tạo ra giữa chốn hoang liêu này một không khí tĩnh mịch và uy nghiê. Nhưng, hai ngôi mộ nằm sát bên nhau biểu hiện biết bao tình cảm cao đẹp thủy chung giữa vua và hoàng hậu vào sinh ra tử với nhau trong suốt cuộc đời chinh chiến. Đó là một điểm độc đáo của lăng Gia Long mà người ta không tìm thấy ở lăng vua nào khác.

    Vào năm Minh Mạng thứ 7, tức năm 1826, nhà vua đã bảo các quan giỏi về địa lý phong thủy trong triều đi coi đất để chuẩn bị xây lăng cho mình. Nhưng, mãi đến 14 năm sau (1840) vua Minh Mạng mới chọn được địa điểm và đề án kiến trúc ưng ý nhất tại vị trí hiện nay. Quan Lê Văn Đức là ngưòi tìm ra địa cuộc tốt lành đó được nhà vua thăng cho hai cấp.

    Thầy địa lý Lê Văn Đức thật chí lý khi chọn địa cuộc này, vì vừa hợp với thuật phong thủy, vừa hợp với cảnh quan chung quanh. Toàn bộ lăng giống như cơ thể con người nằm gối đầu lên một ngọn đồi cao trong vùng, tứ chi xuôi duỗi ra phía ngã ba sông gần đó.

    Ngoài tính cách đăng đối uy nghiêm đường bệ, lăng Minh Mạng còn có những nét quyến rũ của thiên nhiên đã được chỉnh trang lại để làm bối cảnh cho các công trình kiến trúc.

    Xưa nay bất cứ ai đến viếng cảnh chùa cũng đều thừa nhận rằng người chọn vị trí làm chùa là một phật tử có trình độ thẩm mỹ rất cao. Kiến trúc ngôi chùa được lồng vào trong một ngoại cảnh thiên nhiên nên thơ tĩnh mịch. Nó thích hợp với Phật tính ở chỗ vừa cách biệt với những sinh hoạt tục lụy của thế nhận, nhưng lại vừa gần gũiđối với những người con Phật mộ đạo ở chốn thị thành cách đó chưa đầy 4 km.

    Ngọn đồi đột khởi giữa quãng đất bằng, được nâng lên thêm bởi ngọn tháp Phước Duyên uy nghi cao cả. Dòng sông Hương thanh khiết uốn khúc trước chùa như để rửa sạch bụi đời cho tâm hôn và thể xác những người hướng đến và tìm về đạo pháp.

    PHÚC AN KHANG Fengshui Marina Tâm 0938168807

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn
  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn (P.2)
  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Xem Phong Thuỷ Từ Xa
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền, Phongthuyvnn.com
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền
  • Cách Khai Quang Các Vật Khí Phong Thủy: Tỳ Hưu, Th

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Mệnh Kim Nên Đeo Vòng Tỳ Hưu Màu Gì ?
  • Nhẫn Tỳ Hưu Đá Mắt Hổ
  • Nhẫn Tỳ Hưu Thạch Anh Đen
  • Mua Tỳ Hưu Ở Đâu Chuẩn Các Cung Mệnh, Giá Tốt?
  • Vòng Tay Mã Não Đen Mix Tỳ Hưu
  • Phần 1: Mầu nhiệm từ vật khí phong thủy chôn dưới nền nhà.

    Trong phần này chúng tôi sẽ ra mắt giới thiệu các bạn đọc về sự mầu nhiệm từ Vật khí phong thủy khi đã Khai quang điễm nhãn, và nhận biết được cách thức Khai quang vật khí như thế nào cho đúng nguyên tắc của nó. Ngoài những Vật khí trưng bày hay treo ra, còn có những Vật khí phong thủy chuyên chôn dưới nền đất tại nhà Gia chủ, nhằm có tác dụng Cân bằng Âm dương, hóa giải Sát khí, tử khí, âm khí, hung khí, hóa giải hướng nhà xấu, nội ngoại hình gia trạch xấu, tăng cường tài lộc cho gia thất, hóa giải cục đất chết… Ngoài ra dùng bột trừ tà và bột tẩy uế còn có tác dụng tăng cường tài lộc cho gia chủ, Trừ tà và chống lại những kẽ tiểu nhân khi xây nhà gia chủ có ý định CHẤN YỂM hãm hại nhà gia chủ khi hai bên không thuận ý với nhau chúng tôi tặng cho bạn đọc trên chuyên trang web chúng tôi một bài thơ về sự Mầu nhiệm của Vật khí phong thủy sau đây:

    ====================

    Khởi từ vạn vật thiên nhiên

    Tạo nên đá quí sức thêm thần kì

    Phong thủy cốt cách đường đi

    Làm nên dáng vẻ uy nghi lạ thường

    Truyền kỳ bốn hướng tám phương

    Tôn tăng vẻ đẹp vô thường nhân gian

    Cửa nhà sung túc huy hoàng

    Thuận thiên rước cả bạc vàng về ta

    Vợ chồng Phước Lộc hoan ca

    Thọ niên trăm tuổi mẹ cha ân tình

    Tỳ Hưu Thiên Lộc trấn sinh

    Đá Cây Mã não hữu tình nước non

    Thập Nhị Hoa giáp vây tròn

    Làm nên thế đứng oai hồn riêng ta

    Vững cho danh phận vang xa

    Chắc thêm vị trí ngày qua lâu bền

    Kỳ Lân Tống tử vinh yên

    Hạ sinh quý tử đoàn viên reo mừng

    Tháp Văn Xương trí đăng khoa

    Tam Đa Lộc Thọ Phúc cùng càn khôn

    Tam Dương Khai Thái dập dồn

    Chiêu Tài Kim Tước tiền chôn trong nhà

    Hai ngàn linh vật ứng xa

    Tạo nên Phong Thủy khuyên ta thỉnh về

    Hữu tình sanh khí trần mê

    Trấn tà diệt bạo tràn trề sống vui.

    Trong khoa học phong thủy, khi đồ vật phong thủy (Vật khí) được Trì tụng khai quang điễm nhãn xong sẽ gọi là Pháp khí, hay gọi là Linh vật được phép, được cân bằng âm dương, được xem như là một viên thuốc Thần kỳ giúp chấn áp, hóa giải và chiêu tài…nhằm mục đích giúp chúng ta có một môi trường sống lành mạnh, có sức khỏe tốt và hưng thịnh.

    Do nhiều tác động và chịu nhiều ảnh hưởng xấu nên con người nghiên cứu vật khí nào phù hợp để “trị bệnh” và “hóa giải” cũng như “chấn áp”.

    Ví dụ: Nhà không đúng hướng, ngã ba có con đường đâm vào nhà, Phi đao sát, Thiên trảm sát, những góc nhọn đâm vào nhà hoặc nhà không có vượng khí…thì cần chiêu tài và hóa giải.

    Để xem phong thủy cho một căn nhà giống như một bác sĩ khám cho bệnh nhân. Do đó Vật khí phong thủy được ví như là liều thuốc “trị bệnh” khi nhà vấp phải một sự cố. Thầy phong thủy phải nghiên cứu thật kỹ xem hình hài trường phái Loan đầu, Chu tước, Huyền vũ, Thanh long, Bạch hổ và bên trong nhà. Đặc biệt là xem cục đất nhà ở có vượng khí hay không? Đất sống hay chết? Trị số từ trường của đất ở là bao nhiêu? Sắp xếp các phòng cũng như vật dụng có đúng theo trạch mệnh hay theo phong thủy tự nhiên và những điều kiêng kỵ cần thiết, thì lúc đó Thầy phong thủy phải có cách chấn yểm và hóa giải cho nhà gia chủ khi cần thiết.

    Ngoài ra tránh tình trạng lạm dụng chấn yểm quá nhiều sẽ không tốt cho gia thất. Khi lạm dụng quá nhiều chẳng khác gì một người khỏe mạnh mà ngày nào cũng uống thuốc bổ.

    Vật khí phong thủy được chia ra thành hai nhóm chính: CHẤN (đặc trị hóa giải) và CHIÊU (như là “thuốc bổ” kích hoặt tài lộc và được nói nôn na là “Chiêu tài tấn bảo” cho gia thất).

    Vật khí phong thủy ngày nay rất đa dạng về mẫu mã và sáng tạo vì được đúc kết kinh nghiệm qua nhiều thời kỳ. Như: tượng, hình, đồng tiền… nhưng tượng đồng hay tượng đá hoặc đồng xu bằng đồng thì cực kỳ có linh khí và mầu nhiệm vô tận.

    Còn những Vật khí bằng nhựa, mica… có nhuộm màu hay kích màu hoặc xi mạ thì những vật này có rất ít giá trị và linh nghiệm cho tương lai. Với những đồ đồng hay đồ đá thì rất có giá trị về mặt văn hóa cho về sau. (có nghĩa là càng để lâu càng linh nghiệm và vài chục năm hay vài trăm năm nó sẽ thành Đồ cổ xưa)

    Với những kinh nghiệm lâu năm và cái tâm trong nghề, khi khai quang điểm nhãn với đồ Đồng hay đồ Đá là những vật có sức hút thần kỳ cũng như rất quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc mỗi lần đọc kinh trì chú từng biến một.

    Người đọc là Truyền, Vật khí phong thủy là Hút. Sự Hút năng lượng của Vật khí phong thủy từ chính người trì tụng nó sẽ hấp thụ luồng khí có năng lượng sống từ con người làm nên.

    Những tiếng kinh Đạo pháp và những tiếng gõ mõ hay tiếng chuông được phát ra như một dòng xung điện có đường dẫn cực mạnh để làm cho Vật khí phong thủy có chất và có thiêng hơn bao giờ hết.

    Ví dụ: Các cửa hàng bán Vật khí phong thủy chỉ cách khai quang điểm nhãn bằng cách tắm rửa con Tỳ hưu bằng nước Lá Bưởi rồi sau đó dùng bột Chu sa thoa vào mắt…Làm như vậy có đúng là cách khai quang điểm nhãn không?

    Theo quan điểm của chúng tôi cho rằng chưa đúng. Muốn khai quang Vật khí phong thủy thì ít nhất người làm hành lể phải là người hiểu biết về Kinh pháp và phải có “CĂN” có “TÂM”, “LỰC” và sức mạnh “NĂNG LƯỢNG”. Phải hiểu rõ cách dạo đầu từ “Kinh Mở Mắt” (cho sự mở đầu) đó là: “Thiên linh linh, địa linh linh, thiên khai địa khai , ngũ hành vạn vật…”.

    Khi trì tụng xong phần kinh đó từ 5 biến đến 21 biến cho hấp thụ Vật khí và sau khi dứt “Kinh Mở Mắt” người trì tụng tiếp tục tụng tiếng kinh PALI , đó là Kinh ” Mở Huệ Nhãn” (con mắt thứ 3 của Dương Tiển) đó là: ” Bô cha ma chúng tôi ha” và kinh này phải bắt buộc Trì chú đọc thầm và tùy theo mức độ Vật khí.

    Ví dụ Kinh Hộ mạng trừ tai nạn, Kinh như ý, Kinh nam tông xin tài bảo chư Phật, mười ơn đức Phật…

    Với nguyên tắc quan trọng nhất trong phong thủy là phải hợp lý về mặt khoa học và có sự triết lý của nó.

    Theo quan điểm của chúng tôi thì ngoài phong thủy ra còn phải có tính chất yếu tố về mặt tâm linh. Phong thủy mà không có tâm linh thì cũng không được trọn vẹn.

    Ví dụ:

    Nếu bạn đặt két sắt tiền theo hướng tốt của gia chủ thì cũng phải chọn ngày nào, giờ nào, bỏ số tiền kích hoặt cho gia chủ là trị số tiền phong thủy là bao nhiêu để chiêu tài?

    Chuyển bàn làm việc cho đúng cung mệnh vào ngày nào, giờ nào, xem ngày tháng năm xây dựng có phạm Kim lâu hay xung sát gì hay không?

    Chuyển bếp và đặt bếp theo cung mệnh gia chủ vào ngày, giờ nào?…

    Xem phong thủy cho nhà gia chủ là tìm cái hợp lý và không hợp lý, thầy phong thủy phải đặt cái “TÂM” làm đầu. Tránh trường hợp hù dọa gia chủ khi thật sự gia thất phong thủy nhà đó không yên. Nên có giải pháp toàn diện thật khoa học về phong thủy, êm đềm giải thích cặn kẽ cho gia chủ biết cái xấu, cái tốt, những điều nên tránh và hóa giải…

    Đặc biệt không làm cho gia chủ hoang mang, mệt mỏi, tuyệt vọng… Thầy phong thủy nên có sự tác động mạnh mẽ về tư tưởng tốt cho gia chủ là điều cần thiết cho yếu tố làm nghề phong thủy. Xem phong thủy hay dùng Vật khí phong thủy để chấn áp hóa giải phải có sự hợp lý về khoa học làm cho gia chủ có môi trường sống lành mạnh, hạnh phúc và tài lộc sung túc. (còn tiếp)

    Nhà nghiên cứu Khai quang điểm nhãn – TRỌNG HÙNG fengshiu – Phong thủy Gia Group

    Phong thủy Gia Group

    www.CachdungphongthuyDung.com – chúng tôi

    cay nong lanh, may loc nuoc, quat phun suong, thiet bi loc,quat, khong canh

    phong thuy, xem phong thuy, phong thuy nha ,

    thoi trang, thoi trang, thoi trang cong so, thoi trang tre, thoi trang nu, giay dep, tui xach ,

    cua kinh, cua nhua, cua nhom,,

    gach, gach men,

    thiet ke web,

    phong thuy, xem phong thuy, phong thuy nha ,

    nokia,dien thoại di dong,dienthoai bac ninh

    gạch

    cua nhua

    tui sach, day lung,

    may loc nuoc, quat phun suong, thiet bi loc,quat, khong canh

    thue, thue viet nam

    xe dap

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nhận Thức Sai Lầm Về Khai Quang Linh Vật Phong Thủy
  • Mặt Dây Chuyền Tỳ Hưu Đá Mã Não Đỏ
  • Vòng Tay Mã Não Đỏ Gắn Tỳ Hưu Bọc Bạc
  • Đặt Tỳ Hưu Trên Bàn Làm Việc Hợp Phong Thủy
  • Dây Chuyền Tỳ Hưu Có Cần Phải Khai Quang Điểm Nhãn Không